Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu đô la Mỹ từ Trung Quốc

June 16, 2009 by radiochantroimoi

Bản tin đặc biệt

Ông Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu đô la Mỹ từ Trung Quốc

Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ. Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Đắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam.

Hiện nay, dữ kiện này đã lan đến một số nhỏ doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong nỗ lực chận đứng lan truyền và ngăn chặn sự phản đối của dư luận trong nước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh “bắt khẩn cấp” một số người trong vài ngày qua. Hiện tượng “bắt khẩn cấp” này nhiều phần sẽ còn kéo dài trong những ngày trước mặt.

Radio Chân Trời Mới
Ngày16/6/2009

NTDung-China

Trung Quốc phát hành tiền tệ xử dụng riêng cho Trường Sa

March 15, 2009 by radiochantroimoi

Quần đảo Trường Sa hiện là vấn đề tranh chấp của các quốc gia trong vùng: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai và Brunei. Năm 1988 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm một số đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trong mục tiêu tuyên truyền để nhấn mạnh chủ quyền của Trung Quốc trên nhóm đảo Trường Sa mà họ gọi là quần đảo Nansha (Nam Sa), chính quyền Bắc Kinh phát hành một số tiền tệ để sử dụng đặc biệt trong vùng đảo Nansha mà thôi.

stamp

Các tờ tiền giấy này thật ra là tiền giấy đang lưu hành tại Trung Quốc được đóng thêm các dấu đặc biệt. Mặt trước được đóng dấu tiếng Hoa. Mặt sau đóng dấu tiếng Anh. Dấu đóng có nghĩa là: “Sử dụng tại nhóm đảo Nansha mà thôi“. Mặt sau của các tờ tiền còn có dấu đóng đỏ của Hạm Đội Nam Hải. Các tờ tiền lưu hành gồm có: 1, 5 và 10 Nguyên (Yuan), 1, 2 và 5 Giác (Jiao).

Liệt kê sau đây là 4 tờ tiền Nhân Dân Tệ lưu hành tại Trường Sa mà giới sưu tầm tìm được:

ns1yuan

ns5yuan

ns10yuan

ns5jiao

Nguồn: Joel Anderson Coins Collecting, Grover Beach, California.

Ký sự hải chiến Trường Sa

March 15, 2009 by radiochantroimoi

Lời giới thiệu: Trong tinh thần vinh danh các chiến sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong các trận hải chiến Hoàng Sa, trận chiến biên giới phía Bắc và trận hải chiến Trường Sa, chống lại quân xâm lược Trung Quốc, bảo vệ bờ cõi, chúng tôi xin gửi đến quý vị những bài đặc biệt về các trận chiến này.

Để tưởng niệm các chiến sĩ hải quân nhân dân đã hy sinh trong trận hải chiến Trường Sa 21 năm trước, chúng tôi xin gửi đến quý vị bài viết nhan đề “Một trang sử anh hùng, một thời kỳ nhục nhã” của tác giả Phạm trung Trực gửi cho đài Chân Trời Mới. Bài viết này được tác giả viết vào mùa thu năm ngoái, đánh dấu 20 năm trận hải chiến Trường Sa, và vào lúc 10 nhà dân chủ bị nhà nước cộng sản bắt vào nhà giam vì biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Phạm Trung Trực là bút danh của một sĩ quan hải quân Quân Đội Nhân Dân đã tham dự trận hải chiến Trường Sa vào tháng 3 năm 1988.

Radio Chân Trời Mới

——–

20 năm trận hải chiến Trường Sa: Một Trang Sử Anh Hùng, Một Thời Kỳ Nhục Nhã

Mùa thu Hà Nội – 2008

Nhân dịp 10 chiến sĩ dân chủ bị nhà nước cộng sản bắt vào nhà giam vì biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và Trương Sa

Ngay từ cuối năm 1986, tình hình vùng biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam có những diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích của lực lượng Hải quân Trung Quốc.

ctm-truongsa

Đặc biệt, từ ngày 24 đến 30-12–1986, máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tăng cường hoạt động từ đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Đến đầu năm 1987 Trung Quốc vừa đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao bịp bợm, vừa tăng cường đưa tàu chiến vào gần các đảo của Quần đảo Trường Sa, trong đó có những đảo bộ đội ta đang chiếm giữ. Chúng trắng trợn đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i-xi-Ti, cho tàu qua lại các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa đông, Song Tử Tây… có lúc chỉ cách quân ta có một vài hải lý.Trắng trợn hơn chúng còn đưa lực lượng chiếm giữ hai đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam Quần đảo Trường Sa.

Trước tình hình đó, ngày 24-10-1987 Tư lệnh Hải quân ra mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đồng thời chỉ đạo cho các lữ đoàn 125, lữ đoàn 172, trung đoàn công binh 83 chuẩn bị lực lượng phương tiện sẵn sàng cơ động đến xây dựng công sự trên các đảo.

Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa, ngày mồng 9 tháng Giêng năm 1988, Bộ Tư lệnh Hải quân đề ra chủ trương: Tranh thủ thời gian, khẩn trương triển khai lực hượng, đóng giữ trên các đảo. Kiên quyết không để bọn bành trướng Bắc Kinh thực hiện ý đồ đưa lực lượng đóng xen kẽ với ta.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, ngày 23 tháng Giêng nắm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ – 712 do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng vùng 4 Hải quân làm biên đội phó, đưa 1 đại đội công binh đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng Giêng, khi cách đảo 5 hải lý thì ta phát hiện 4 tàu của Trung Quốc ra ngăn cản, không cho tàu ta tiếp cận đảo, tàu ta đành phải quay về Trường Sa đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, thường vụ đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định “bọn Trung Quốc đã cho quân chiếm đóng đảo Chữ Thập. Trước mắt ta chưa thực hiện đóng xem kẽ được vì chúng ngăn chặn ta từ xa.Sắp tới chúng sẽ mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ các đảo: Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Thực hiện nghị quyết của Thường vụ đảng ủy quân chủng, tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa đông, đưa bộ đội khẩn trương đến đóng giữ đảo Đá Lớn trước 3 giờ sáng. ngày 5 tháng 2 năm 1988.

Tình hình đang diễn ra hết sức cấp bách. Cấp trên vẫn chưa có chỉ đạo cụ thể.

Trước tình hình ấy Quân chủng Hải quân quyết định thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh do đồng chí Giáp văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh vùng 4. Các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của mình để kịp thời giải quyết mọi tình huống cấp bách.

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh quân chủng, tàu HQ- 611và tàu HQ-712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội chia lực lượng thành 3 tổ vừa xây dựng vừa canh gác vừa sẵn sàng chiến đấu. Đến ngày 20-2-1988 lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực hượng đóng giữ đảo đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng công sự và nhà ở và bàn giao cho đơn vị.

Cùng thời gian đó ở hướng Đá Lớn, ngày 13-2-1988 thực hiện mệnh lệnh của Quân chủng, Lữ đoàn 125, đơn vị hai lần được tuyên dương anh hùng, cho tàu HQ-505 kéo tàu LCU-556 cùng bộ phận công binh đến đóng giữ đảo Đá Lớn. Trong khi tàu ta đang tiến về phía đảo thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của hải quân Trung Quốc cũng tiến về phía đảo Đá Lớn. Khi tàu ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý thì tàu Trung Quốc thả tủy lôi ngăn cản.

Trước tình hình đó ban chỉ huy tàu HQ-505 nhận định: Bọn Trung Quốc chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, vì vậy ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Do sự mưu trí và bình tĩnh, cán bộ chiến sỹ tàu HQ-505 đã khôn khéo đưa tàu LCU- 556 tiếp cận được phía bắc đảo Đá Lớn.

Ngày 20-2-1988, sau khi khảo sát thăm dò luồng, tàu 556 đã an toàn tiếp cận phía nam đảo Đá Lớn khẩn trương triển khai thế trận phòng thủ.

Cuối tháng 2-1988 Hải quân Trung Quốc tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Tình hình trở nên hết sức căng thẳng. Bộ Tư Lệnh hải quân liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay: Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không?

Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng.

Đau đớn thay cho Tổ Quốc ta, chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo đất nước với sự thao túng của Lê đức Anh, Ủy viên BCT, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Trung Quốc để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ.” ở Căm pu Chia với ý đồ đưa cả bọn Khơ-me đỏ vào chính phủ liên hiệp mặc dù bị Nhà nước hợp pháp Căm pu Chia phản đối quyết liệt. Hun Sen nói thẳng với đại diện của ta: “Tại sao các anh lại có ý đồ vô lương tâm đến như thế. Bọn Pôn Pốt không những là kẻ thù của nhân dân Căm pu Chia mà cũng là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Hàng vạn chiến sỹ Việt Nam đã hy sinh xương máu giúp nhân dân Căm pu Chia đánh đuổi bọn Pôn Pốt để Căm pu Chia được độc lập như ngày nay tránh được họa diệt chủng dã man nhất trong lịch sử. Thế mà nay các anh lại bảo chúng tôi ngồi chung bàn với bọn chúng hay sao? Các anh có quyền gì làm việc đó?”

Bị mắng đến thế, không biết nhục, không biết hổ thẹn, Lê đức Anh còn trâng tráo nói: “Pôn Pốt là bạn tôi”. Đó chính cũng là câu nói mà Lê đức Anh nói với Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội Trương Đức Duy trong cuộc gặp vô nguyên tắc, hay nói thẳng ra là đi đêm với nhau bằng một cuộc mời cơm tại Bộ quốc phòng.

Cũng chính trong cuộc gặp riêng bí mật (mà BCT không hề hay biết) với Đại sứ Trương Đức Huy, không có phiên dịch, vì tên đại sứ này nói tiếng Việt rất giỏi, Lê đức Anh đã tiết lộ toàn bộ bí mật nội bộ của Đảng và Nhà Nước Việt Nam.

Không phải bây giờ chúng ta mới thấy cuộc gặp riêng của Lê đức Anh với Trương Đức Duy là sai lầm, là vô nguyên tắc, mà ngay từ hồi đó Lê đức Anh đã bị một số người có trách nhiệm phê phán. Ông Phạm văn Đồng nói thẳng: “Trong các cuộc họp BCT bàn về đàm phán với Trung Quốc, tôi đã ba lần nói là không được hớ mà phải rất thận trọng. Đằng này anh lại ngửa bài trước thì họ biết hết và kết quả là cái gì đã xảy ra?”. Trung Quốc họ theo kiểu Đại hán của họ và kết quả là họ ép mình. Khi nghe ông Phạm văn Đồng phê phán, Lê đức Anh đứng lên chống chế là mình nói “Giải pháp đỏ.” chỉ là để nhằm thăm dò. Và y dựng đứng lên chuyện chuyện là bạn Căm pu Chia nhờ thăm dò thái độ của Trung Quốc. Nhưng Lê đức Anh không ngờ lại bị Võ văn Kiệt, Võ chí Công, Đồng sỹ Nguyên, Nguyễn cơ Thạch, đập cho tới tấp. Thậm chí Lê đức Thọ, người đỡ đầu thân tín Lê Đức Anh đang nằm trên giường bệnh cũng lên tiếng chỉ trích cuộc gặp vô nguyên tắc của Lê Đức Anh.

——-

Thật kỳ lạ đúng 20 năm sau, lịch sử lại lập lại một trang bi thảm trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Năm 2008 nằy, khi nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh niên, sinh viên biểu tình tỏ thái độ phản đối bọn Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa, thì ban lãnh đạo Đảng vẫn như vô cảm, thậm chí còn cho công an đàn áp dã man, bắt bỏ tù nhiều thanh niên,yêu nước dám hy sinh vì Tổ quốc thân yêu.

Cách đây 20 năm, mặc cho sự chần chừ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ chiến sỹ Quân chủng Hải quân vẫn kiên quyết tỏ rõ quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc.

Lúc này nhiệm vụ đóng giữ đảo của cán bộ chiến sỹ các Lữ đoàn 146, 125 và Trung đoàn công binh 83 ngày càng trở nên quyết liệt. Trung tuần tháng 2-1988, Lữ đoàn 125 anh hùng đưa Pông – Tông O7 ra giữ đảo Tốc Tan.

Tại đảo Đá Đông, một đảo chìm có diện tích khá rộng, giữ vị trí quan trọng trong quần đảo, Tư lệnh Quân chủng lệnh cho tàu HQ- 661 đưa lực lượng ra cắm cờ, canh gác, đồng thời lệnh cho tàu HQ-605 đưa bộ đội ra chốt giữ đảo. Trong bối cảnh hải quân Trung Quốc có thể khiêu khích, ngăn chặn, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Ta khẩn trương triển khai lực lượng bảo vệ đảo trong hoàn cảnh cập rập, bị động do không được trên chỉ đạo kịp thời.

Các tàu HQ-605, HQ-604 được lệnh ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ Đá Đông ở vòng ngoài.

Như vậy đến đầu tháng 3-1988 lực lượng hải quân mới triển khai xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên số 16, gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

Trong những tháng đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số đảo và bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa: Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Xu Bi, Huy Gơ, …Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lất, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng của kẻ thù ra các đảo lân cận. Song bọn chúng vẫn có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông Kinh Tuyến 115 độ.

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Bộ tư lệnh Hải quân ta xác định: “Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để bọn Trung Quốc chiếm được sẽ khống chế đường qua lại của ta trong việc tiếp tế và bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa“. Vì vậy không chờ ý kiến của trên Bộ tư lệnh Quân chủng hạ quyết tâm triển khai đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn phức tạp, bởi trong cùng một lúc ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị hạn chế, lực lượng lại có hạn. Không còn cách nào khác Bộ tư lệnh Quân chủng lại quyết định giao cho Lữ đoàn 125 phát huy truyền thống đơn vị anh hùng huy động lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân Trung Quốc sau khi chiếm giữ trái phép các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ và Xu Bi cũng đang có ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, CôLin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và cả vùng biển Đông. Đầu tháng 3-1988 chúng huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên tới từ 9 đến 12 tàu chiến gồm: Khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, hai tàu hộ vệ pháo, hai tàu đổ bộ. Tàu hỗ trợ gồm ba chiếc LSM, ngoài ra còn có tàu đo đạc, tàu kéo và một Pông-Tông lớn.

Trước tình hình đó, Tư lệnh Hải quân lệnh cho vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146,các Hải đội 131, 132, 134, của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sãn sàng chiến đấu cao. Ngày 12-3-0988 tàu HQ-605 (thuộc Lữ đoàn 123) do đồng chí Lê lệnh Sơn làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 5 giờ sáng ngày 14-3-1988. Sau 29 giờ hành quân bí mật vượt qua sóng to gió lớn, tàu HQ-605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14-3-1988 và cắm cờ Tổ quốc trên đảo, khẳng định chủ quyền của Tổ quốc Vệt Nam.

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ (đứng giữa hàng đầu) và thuỷ thủ tàu HQ-505, hình chụp tháng 5/1988 - Ảnh của Nguyễn Viết Thái

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ (đứng giữa hàng đầu) và thuỷ thủ tàu HQ-505, hình chụp tháng 5/1988 - Ảnh của Nguyễn Viết Thái

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin, 9 giờ sáng ngày 13-3-1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ phi Trừ làm Thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về đảo Gạc Ma, CôLin. Phối hợp với hai tàu HQ-604 và HQ-505, có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do đồng chí Trần đức Thông, phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy. Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút thì tàu hộ vệ của Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma có lúc cách tàu quân ta chỉ khoảng 500 mét. 17 giờ ngày 13-3-1988, tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ-604 của ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị địch uy hiếp, chiến sỹ hai tàu HQ-604, HQ-505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu khiêu khích của địch, kiên trì tuần giữ quanh đảo. Trong lúc đó tàu chiến đấu của địch cùng một tàu hộ vệ, hai tàu vận tải thay nhau cơ động chạy quanh đảo Gạc Ma, nhằm uy hiếp tinh thần quân ta.

Tàu TQ xâm lược đổ bộ lên đảo Gạc ma. (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Tàu TQ xâm lược đổ bộ lên đảo Gạc ma. (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Trước tình hình căng thẳng ngày một tăng do bọn Trung Quốc gây ra, vào hồi 21 giờ ngày 13-3-1988, Bộ tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần đức Thông, Vũ huy Lễ, Vũ phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Bộ tư lệnh chỉ thị khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà trên đảo ngay trong đêm 13-3-1988. Cùng lúc đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo Gạc Ma.

Lúc này bọn Trung Quốc điều thêm hai tàu hộ vệ trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ, đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma.

6 giờ ngày 14-3-1988, bọn Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Bọn Trung Quốc dựa vào thế quân đông tiến đến giật cờ ta. Lập tức thiếu úy Trần văn Phương, hạ sỹ Nguyễn văn Lanh cùng đồng đội anh dũng xông lên giành lại cờ.

Bọn lính Trung Quốc láo xược, hung hãn đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần văn Phương xông vào cứu bạn lập tức bị bọn lính Đại hán bắn chết. Trần văn Phương đã anh dũng hy sinh.

Thiếu úy Trần Văn Phương - Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Thiếu úy Trần Văn Phương - Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Đây là liệt sỹ đầu tiên của bộ đội hải quân Việt Nam hy sinh trên vùng biển Đông của Tổ Quốc, bảo vệ quần đảo Trường Sa. Trước lúc hy sinh, Trần văn Phương đã hô to: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng. Tổ quốc Việt Nam muôn năm.”

Tiếng hô của anh vang vọng trên sóng biển Đông xa xôi. Những người lãnh đạo ở Hà Nội có nghe được tiếng hô thống thiết này không? Tiếng hô mà lẽ ra bằng tâm linh của những con người có lương tri phải nghe được, cảm được. Vì chính họ là những người phải chịu trách nhiệm về sự hy sinh này.

Không uy hiếp được bộ đội ta rút khỏi đảo, bọn Trung Quốc dùng hai tàu bắn pháo

100 mm vào tàu HQ-604, làm tàu ta bị hỏng nặng. Tiếp đó bọn chúng cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ phi Trừ vừa chỉ huy bộ đội chiến đấu, vừa tổ chức băng bó cứu chữa thương binh, và hỗ trợ các chiến sỹ bảo vệ cờ. Đối phương tiếp tục nã đạn, làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Đồng chí Vũ phi Trừ, thuyền trưởng ; đồng chí Trần đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 cùng một số cán bộ chiến sỹ đã anh dũng hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-505 đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi tàu 604 của ta bị chìm, đồng chí Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu HQ-505 ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 của ta đang cơ động lên bãi, hai tàu của đối phương quay sang tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu HQ-505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội tàu HQ-505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ tàu HQ-604 bị chìm. Tàu HQ – 505 bị bốc cháy. Cán bộ chiến sĩ của tàu, dưới sự chỉ huy dũng cảm của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của bọn Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của ta. Tàu 605 bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.

Tàu HQ-505 (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Tàu HQ-505 (Nguồn: my.opera.com/hotrungnghia)

Như vậy, trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, ba tàu của hải quân ta bị bắn cháy và chìm, ba đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích. Sau này đối phương trao trả ta 9 đồng chí, còn 61 người mất tích.

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân ta đã chiến đấu dũng cảm nêu cao quyết tâm bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Với chiến công oanh liệt đó, tàu HQ-505 được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương Chiến công các loại.

***

Năm 2008 này vừa tròn hai mươi năm trận hải chiến Trường Sa lịch sử. Cách đây hai mươi năm, trên vùng biển Trường Sa, hơn 70 cán bộ chiến sĩ quân đội nhân dân Việt nam đã anh dũng hi sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc. Họ đã bị kẻ thù Trung Quốc dã man, tham lam giết hại. Tưởng chừng như sự hi sinh mất mát của họ sẽ bị chìm vào lãng quên nhưng nhân dân cả nước cũng như đồng bào hải ngoại, nhân dịp kỉ niệm này giành cho các chiến sĩ lòng thương cảm vô hạn. Hàng triệu người dân nước Việt thương xót nghĩ đến các anh. Thương xót vì biết các anh hi sinh anh dũng nhưng vẫn không thể yên nghỉ bởi kẻ thù năm ấy vẫn đang còn chiếm giữ một phần đất ruột thịt của tổ quốc, mở đầu một thời kì nhục nhã do tập đoàn lãnh đạo đứng đầu là Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh cam tâm làm tay sai cho kẻ thù, xúc phạm đến sự hi sinh cao cả và thiêng liêng của các anh. Nhân dân Việt nam ở trong nước cũng như ngoài nước thì sẽ mãi mãi nhớ tới các anh, những anh hùng của trận chiến Trường Sa tháng 3 năm 1988, và cả những người lính Việt nam cộng hòa đã anh dũng hi sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974.

Thực ra trận Hoàng Sa năm 1974 còn oanh liệt hơn trận Trường Sa năm 1988. Năm 1974, mặc dù lực lượng ít hơn, lại bị bất ngờ trước âm mưu xâm lược của bọn Tàu (Vì nghĩ rằng, hạm đội 7 Mỹ còn đấy bọn Tàu không dám làm), các chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, đánh chìm ba tàu của chúng, trong đó có soái hạm chỉ huy, khiến toàn bộ Bộ Tư lệnh trận đánh gồm 2 đô đốc, 4 đại tá, 6 trung tá, 2 thiếu tá bị tử thương.

Một số tử sĩ VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Một số tử sĩ VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Phía Hải quân Việt Nam Cộng Hòa có nhiều tấm gương hy sinh dũng cảm, tiêu biểu là trung tá Ngụy văn Thà, Hạm trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo. Khi tàu bị trúng đạn, đang chìm dần giữa biển Đông, Ngụy văn Thà đã lệnh cho Hạm phó, thiếu tá Nguyễn thành Trí, dùng bè cao su đưa số chiến sỹ còn sống sót, bị thương về đất liền, còn mình quyết ở lại với chiến hạm cho đến hơi thở cuối cùng.

Tất cả họ đã ngã xuống vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt nam.

Tổ Quốc đời đời ghi nhớ tấm gương anh hùng của các anh, các chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Phạm Trung Trực

SOS Bảo Lâm

March 12, 2009 by radiochantroimoi

Thị Trấn Bô Xít Tại Lâm Đồng

Lý Nam Bình
Ký sự đặc biệt cho Đài Chân Trời Mới

baolam01
Cửa ngỏ vào Bảo Lâm. Từ Bảo Lộc đi vào 15 cây số

baolam02
Bảng chỉ đường vào tổng hành dinh của Công ty khai thác Bô Xít tại Bảo Lâm

Theo quốc lộ 20, từ Sài Gòn về Đà Lạt đến Bảo Lộc ngay tại ngã 3 Lộc Sơn quẹo trái 15 cây số nữa sẽ đến thị trấn Bảo Lâm. Nơi đây là tổng hành dinh điều hành khai thác Bô Xít ở Lâm Đồng. Đến trung tâm thị trấn, ngay chỗ chợ Bảo Lâm, theo mũi tên chỉ dẫn quẹo trái vào 200m sẽ đến khu điều hành khai thác Bô Xít. Nơi đây bao gồm nhà ở của các chuyên gia Trung Quốc và các quan chức của tập Đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam. Còn mỏ Bô Xít thì cách đó chừng 5 km. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng- xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm

Khác với sự dè dặt trên ĐăkNông, tại Bảo Lâm người ta thoải mái nói về Bô Xít hơn. Từ quốc lộ 20 có bảng chỉ dẫn đường vào vùng khai thác mỏ và nơi điều hành khai thác. Và an ninh cũng có phần lỏng lẻo hơn ĐăkNông nhiều.

baolam04
Những dãy nhà bên trong hàng rào là nơi ở của chuyên gia Trung Quốc

baolam05
Những dãy nhà ở của công nhân Trung Quốc

baolam06
Hai công nhân Trung Quốc trên đường từ khu vực mỏ bô xít đến chỗ hàng quán phục vụ

Người Trung Quốc bao gồm các chuyên gia và công nhân tràn ngập thị trấn Lộc Thắng. Các hàng quán phục vụ người Trung Quốc mọc lên rất nhiều bằng các bảng hiệu song ngữ Việt – Tàu. Theo một cán bộ phòng Lao Động thương binh tại thị xã Bảo Lộc thì hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây.

Các chuyên gia Trung Quốc thì ở ngoài thị trấn Lộc Thắng trong khu cao cấp biệt lập nằm ven thị trấn trên một hồ nước thơ mộng. Cuối tuần khu này vắng vẻ do họ về Sài Gòn hay lên Đà Lạt ăn chơi. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì ở ngay tại khu mỏ. Từ thị trấn Lộc Thắng đi 5 Cây số về hướng ĐăkNông đến ngã 3 Cát Quế, họ sống trong những ngôi nhà thấp lè tè lợp tôn màu xanh. Hiện có khoảng 8 dãy nhà dành cho công nhân ở. Chúng tôi gặp chị  Hương đang lo nấu ăn cho 1 dãy nhà gồm 45 công nhân Trung Quốc cho biết: “ Hiện có khoảng 300 công nhân Trung Quốc ở đây, mỗi dãy nhà họ thuê 2 người nấu ăn, lương mỗi người là 150 000 VND. Theo chị Hương thì cách ăn uống của công nhân Trung Quốc khác lạ, buổi sáng ăn cháo trắng với cá khô kho mặn và họ sống rất hà tiện. Họ giao  700 ngàn đồng (cỡ 40 Mỹ Kim) cho chị Hương bảo phải đi chợ nấu ăn cho 45 người. Không riêng gì nhóm chị Hương mà người nấu cho các nhóm khác đều kêu ca. Người dân thị trấn Lộc Thắng cho hay mỗi sáng sớm và chiều tối hàng tốp công nhân Trung Quốc kéo nhau đi dạo và vào các hàng quán. Một điều dễ nhận là họ mua cái gì cũng trả giá từ cục xà phòng, hộp kem dù giá bán lẻ in ngay ngoài vỏ hộp nhưng họ cũng trả thấp hơn một phân nữa.

baolam07
Những cửa hàng phục vụ chuyên gia và công nhân Trung Quốc tại Bảo Lâm

Anh Hoàng Văn Xướng, một công nhân lao động phổ thông, 20 tuổi ở ngay thị trấn Lộc Thắng cho hay hiện có rất nhiều người dân địa phương và người miền Bắc vào làm công nhân tại mỏ. Giá tiền công là 90 ngàn cho một ngày làm việc. Đó là công giá sau khi qua các tay cò trung gian, nếu làm trực tiếp cho các người thầu Trung Quốc thì giá được trả là 150 ngàn VND . Công việc chính của các công nhân Việt Nam là đào móng và các việc lặt vặt khác. Mỗi ngày có khoảng 300 người Việt nam làm việc nơi đây.

Anh Nguyễn Văn Quốc, 25 tuổi, người Đà Nẵng, kỹ sư tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng làm việc tại đây được 3 tháng cho biết anh đang làm việc chung với nhóm chuyên gia Trung Quốc và có 4,5 thông dịch viên. Công việc của anh là hướng dẫn công nhân Việt nam đào các móng. Mỗi trụ móng 1mét vuông nhưng chiều sâu đến 13,5 mét. Khu nhà máy rộng đến 60 hecta, chỉ làm đúng kích cỡ do các chuyên gia Trung Quốc chỉ dẫn, sau đó họ đem nhà máy của họ qua đây lắp vào các trụ móng đào sẵn. Anh Quốc cũng cho biết lương kỹ sư của anh là 6 triệu đồng 1 tháng thấp hơn lương công nhân Trung Quốc là 10 triệu đồng. Công nhân Trung Quốc họ đến từ các vùng miền núi, nông thôn không có học hành gì. Anh Quốc dẫn chúng tôi vào sâu trong vùng mỏ. Đi đâu cũng thấy bảng chỉ dẫn bằng 2 thứ tiếng: Việt- Hoa.

Một cán bộ làm việc tại văn phòng UBND huyện Bảo Lâm cho biết nhà máy đã khởi công gần 1 năm nay rồi, nhưng công tác đào tạo đã chuẩn bị trước đây 4 năm. Học Đại Học 4 năm thì học ở Trung Quốc, các sinh viên là con em địa phương, thi đại học Bách Khoa Sài Gòn hay Bách Khoa Đà Nẵng bị rớt mà trên 10 điểm cho 3 môn thì được gởi đi học 4 năm ở Trung Quốc. Toàn bộ chi phí do phía Trung Quốc đài thọ. Khóa đầu tiên hơn 50 em đã học được 3 năm rồi. Còn học hệ Cao Đẳng thì học tại Hải Phòng, công nhân học hệ Trung cấp thì học ở Bảo Lộc

Anh Nguyễn Tín, người dân thị trấn Lộc Thắng cho biết thêm, toàn bộ đợt đầu đi học là con của cán bộ huyện Bảo Lâm và thị xã Bảo Lộc, còn dân thường muốn gởi con đi học thì phải tốn 25 triệu đồng lo lót. Các đợt sau thì rẻ hơn chỉ 20 triệu thôi, anh cũng muốn gởi con anh đi học xuất ngoại cho biết nhưng con anh không chịu do sợ tốn kém gia đình.

Người dân Lộc Thắng thì đi đâu cũng bàn tán xôn xao về mỏ Bô Xít. Họ kể về những gia đình được nhận đền bù tiền giải tỏa để giao mặt bằng nhận trên 1 tỷ đồng nhưng ra thị trấn hay xuống thị xã mua nhà vẫn không đủ. Có người không chịu đi bị cưỡng chế, sau đó tiền đền bù mất hơn 400 triệu trừ vào chi phí cưỡng chế. Có người tiếc vườn cà phê, vườn chè quyết ôm cột nhà không đi bị xe múc vào múc bể đầu chết ngay tại chỗ mà còn bị kết tội là chống người thi hành công vụ. Cũng có nhiều người nhận ra là Bô Xít rất độc hại. Họ biết rõ là Trung Quốc đóng cửa các nhà máy Bô Xít của họ và qua đây khai thác Bô Xít của mình nhằm tránh độc hại cho dân họ, còn dân mình thì lãnh hết hậu quả.

baolam08
Đường vào công trường khai thác mỏ bô xít tại Bảo Lâm

baolam09
Công trường khai thác bô xít nhìn từ xa

baolam10
Công trường khai thác bô xít nhìn gần

Từ ngã 3 Cát Quế ngay tâm điểm vùng mỏ tại Bảo Lâm đi khoảng 40 cây số nữa sẽ đến mỏ Bô Xít ở ĐăkNông . Dọc đường chúng tôi bắt gặp nhiều người dân tộc Châu Mạ sống đói khổ trong những căn nhà sàn xập xệ rách nát. Họ vẫn hồn nhiên trên những nương chè ngút màu xanh. Mùa này chè tươi được mua với giá 1000 đồng cho 1 kí lô. Những thung lũng mát màu xanh của thông, chè, cà phê có nguy cơ bị hủy diệt lần này không phải bởi chất độc màu da cam mà bởi những bụi đỏ và bùn đỏ của Bô Xít.

Rồi đây 20 năm nữa vùng hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, và Hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô Xít tại Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?

Lý Nam Bình
Đảng viên Việt Tân tường trình từ Bảo Lâm- Lâm Đồng.
Ngày 8 tháng 3 năm 2009

Đồng Nai : Công An Giao Thông lại đánh dân tại một ấp Văn Hoá

March 10, 2009 by radiochantroimoi

Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-ehPQWbA5dKe46PoVVuLUdwP.qc4-?cq=1&p=2412#comments

Khoảng 8g50 sáng Chúa Nhật 1/3/2009 tại ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xảy ra một vụ công an giao thông đánh dân bị trọng thương.

Trên quốc lộ 20, đoạn từ ngã ba Dầu Giây đi Đà Lạt, cách ngã ba Dầu Giây khoảng 21km, sáng nay 1/3/2009 có một tốp công an giao thông chốt chặn tại đây. Địa điểm này thuộc ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (đường vào Tu viện dòng Vinh Sơn). Khoảng 8g50 một anh thanh niên tên Lâm đang điều khiển xe máy, anh đi bên phải một chiếc xe tải chạy cùng chiều. Bất ngờ một cảnh sát giao thông từ phía bên kia đường chạy cắt ngang đầu xe tải để chặn xe máy của anh Lâm. Anh lâm do bất ngờ và bị xe tải che khuất tầm nhìn nên không thắng xe kịp và đã lao vào anh cảnh sát này. Thế là sau đó anh bị cảnh sát đánh rất dã man, thậm chí còn bắt quỳ giữa đường.

Thấy bất bình dân chúng tụ tập rất đông để phản đối hành động bất nhân của cảnh sát. Dân chúng buộc cảnh sát giao thông phải lập biên bản sự việc nhưng họ không làm mà “ra quyết định” cho anh Lâm: “Về nhà đi rồi có gì thì viết đơn khiếu nại sau!!!”.

Anh Lâm ở trong tình trạng hoảng loạn do bị đánh trọng thương nên không biết phải làm gì, thậm chí nói không nên lời, và cũng không có ai đứng ra buộc công an phải giải quyết sự việc nên cảnh sát giao thông đã từ từ chuồn khỏi chốt của họ. Người dân xung quanh nói rằng có cả công an xã Túc Trưng mặc sắc phục cũng như không sắc phục trà trộn trong dân nhưng không giải quyết cho dân…

Xin xem hình ảnh tại đây:
http://picasaweb.google.com/petruslam/DanPhuTucchonglaiCAGT?authkey=Gv1sRgCLXGx5ah5amXpgE#
và một đoạn video clip tại đây:
http://www.youtube.com/watch?v=1cu_m6jpAZs

Trong hình thấy rõ tên một cảnh sát giao thông là Nguyễn Trường Giang, mang số 404-152 (hay 157? nhìn không rõ).

Đến quá trưa đám đông dần dần giải tán…

HIẾU MINH

s2-dongnai011

s2-dongnai021

s2-dongnai031

s2-dongnai041

s2-dongnai051

s2-dongnai061

s2-dongnai081

s2-dongnai121

s2-dongnai131

s2-dongnai141

s2-dongnai151

SOS Đắk Nông

February 22, 2009 by radiochantroimoi

Chuyến Thị Sát Mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ, Đắk Nông

Ngày 19 tháng 2 năm 2009

Lý Nam Bình

Ký sự đặc biệt cho Đài Chân Trời Mới

daknong1

Đường vào Đắk Nông, cách Công Trường Bô Xít 20 km

daknong2

Tới địa phận Đắk Nông

Theo đường quốc lộ 14, vừa qua khỏi địa phận tỉnh Bình Phước là đến địa phận tỉnh Đắk Nông. Huyện đầu tiên của Đắk Nông là huyện Đăk’R Lấp vẫn một màu xanh mát diệu của những vườn cà phê ngút ngàn. Mùa này cà phê đang trổ bông nên hương thơm ngào ngạt.

Hai bên đường, bụi đỏ của đất bazan phủ đầy lên những cụm hoa dại đang vào xuân. Thị trấn Kiến Đức, trung tâm của huyện Đăk’R Lấp đang hối hả nhịp sống những ngày sau tết. Trẻ con của người H’ Mông, Mơ Nông, Êđê, Stiêng vẫn tung tăng đến trường trong những bộ quần áo bám đầy bụi đỏ, nhàu cũ và không lành lặn, có những em bé thì áo không đủ nút.

Từ thị trấn Kiến Đức đi khỏang 10 Km nữa là đến xã Nhân Cơ. Đây là trung tâm khai thác quặng Bô Xít ở Việt Nam. Đây cũng là nơi dấy lến sự quan tâm và chú ý của đồng bào cả nước về sự hủy hoại môi trường khai thác Bô Xít.

Tôi vào quán cà phê đối diện UBND xã Nhân Cơ, cũng gần chợ Nhân Cơ thấy đa số là cán bộ của UBND ra đây thư  giản. Họ tán đủ thứ chuyện, các bàn trong cùng thì có những khuôn mặt lạnh như tiền đang quan sát từng người ra vào quán cà phê. Chúng tôi cũng nằm gọn trong tầm ngắm của họ. Ngay lập tức, có một người bán vé số sà vào bằng giọng Thanh Hoá mời mua vé số và…hỏi thăm.

daknong3

Quốc lộ 14, lối đi vào địa phận xã Nhân Cơ

daknong4

Công trình khai thác Bô Xít nhìn từ xa

daknong51

Công trình khai thác Bô Xít nhìn gần

Một cán bộ văn phòng ủy ban tỉnh Đắk Nông tại Thị xã Gia Nghĩa khuyến cáo chúng tôi tất cả những người bán hàng dạo, xe ôm, bán vé số từ thị trấn Kiến Đức đến Thị Xã Gia Nghĩa là những cán bộ an ninh rải thảm để theo dõi từng khách lạ đến miền này. Nhất là khu chợ Nhân Cơ là trung tâm khai thác mỏ. Theo hướng từ  Sài Gòn về Buôn Mê Thuột vừa qua khỏi trụ sở UBND xã Nhân Cơ, nhìn bên tay phải thấy hiện rõ vùng khai thác mỏ đang được san bằng trên một diện tích rộng lớn.

Các công nhân trong công trường thì ngồi những quán cóc ven đường dùng cơm trưa. Phía sau lưng trên mỗi đồng phục xanh đậm của họ có dòng chữ: “CÔNG NHÂN KHAI KHOÁNG”. Không có một chỉ dẫn nào từ ngoài đường 14 hay vào trung tâm điều hành ghi rõ là BÔ XÍT, người ta cấm chữ này và âm thầm làm việc. Đa số công nhân đến từ Miền Bắc dễ dàng nhận ra họ bởi ngoài giọng nói còn có những biển số xe mà họ đang đi: 29, 30, 31, 33 của Hà Nội, 36 của Thanh Hóa, 37 của Nghệ An, 90 của Hà Nam, 16 của Hải Phòng, 17 của Nam Định, v.v…

daknong61

Hồ nước nằm ngay dưới chân công trình để phục vụ nhà máy khai thác Bô Xít sản xuất Alumi

daknong71

Đất sau khi khai thác đang bị hóa ra màu vàng đỏ

Từ ngã ba ngay chợ quẹo vào đại bản doanh điều hành khai thác Bô Xít khoảng một cây số, chúng tôi men theo con đường đã ủi phẳng khá trơn trợt do có mưa lất phất. Chạy xuống thì gặp một hồ chứa nước, trên đó đã có một nhà hàng thủy tạ với 5-6 chiếc xe biển số xanh của công an, vừa canh gác đường vào mỏ vừa ăn chơi. Hồ nước này là nơi cung cấp nước cho nhà máy trong tương lai. Lên con dốc nhỏ là đến trụ sở CÔNG TY CỔ PHẦN ALUMIN NHÂN CƠ-TKV, cũng không có gì đề cập đến chữ Bô Xít cả. Chạy qua khỏi một đoạn thì thấy có nhiều quán, những vườn cà phê, vườn điều, vườn tiêu xanh tốt những cây xoài đang mùa ra hoa.

Vào phía trong khoảng 2km gặp quán bán tạp hóa của người Mơ Nông, chúng tôi vào mua vài món và hỏi thăm về mỏ Bô Xít thì họ không biết gì cả. Anh chàng thanh niên dân tộc Mơ Nông tên …., 21 tuổi thì nói có ra đó làm công mấy tuần trước Tết chỉ biết làm nhà máy chứ không biết sản xuất gì và hình như chế biến cà phê thì phải. Tội nghiệp người dân tộc họ nghĩ trên quê hương sắp có thêm nhà máy chế biến nông sản để cho giá cà phê, tiêu, điều của họ làm ra không bị ép giá. Họ đâu biết là hiểm nguy đang đến gần họ.

Về lại thị xã Gia Nghĩa, chúng tôi được biết là nhà nước đang tuyển 5000 công nhân ở 2 tỉnh Đắk Nông và Bình Phước để đi tập huấn do các chuyên gia Trung Quốc qua huấn luyện trong vòng 6 tháng đến 1 năm tùy từng công việc.

Việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ, được Bộ Y tế xếp hạng nguy hiểm bậc 2 nên mức lương gấp 3 làm trong các mỏ than. Theo lời một cán bộ thì mức độ nguy hiểm chỉ trong bán kính là 5km còn ngoài phạm vi ấy thì vô hại. Khoảng 10 năm các chuyên gia của Nga đã tính chuyện khai thác Bô Xít ở Đăk Nông nhưng lúc đó do: “Bô Xít còn non, nên bây giờ chúng ta mới liên doanh với Trung Quốc để khai thác”. Chúng tôi hỏi như thế nào là Non và như thế nào là: “đủ tuổi” thì ông cán bộ này nói là do các chuyên gia thẩm định. Cũng theo cán bộ này thì an ninh vùng mỏ phải  đảm bảo để chống lại những “thế lực phản động nhằm phá hoại sự phát triển của Tây Nguyên”.

Khi nghe sự giải thích của ông cán bộ này  tôi hiểu ngay là nhà nước và UBND Tỉnh Dăk Nông muốn cô lập mọi người ra vào xã Nhân Cơ nên đã dựng lên hàng rào “Phản động phá hoại” để tìm cách cô lập mọi người đến xã Nhân Cơ để tìm hiểu cũng như nhận diện sự tàn phá mối sinh của việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ. Tuy nhiên, dù cố tình che đậy và kiểm soát sự ra vào của người dân vùng xã Nhân Cơ, Nhà nước không thể nào che dấu sự nguy hại của việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ vì những khu đất bị biến thành màu vàng đỏ đầy dẫy trên những mảnh đất trù phú của Dăk Nông. Nhìn sự tàn phá này, tôi không thể không chạnh lòng trước viễn cảnh phá huỷ môi trường sinh thái tại Đắk Nông.

Đắk Nông SOS là tiếng vọng!

Lý Nam Bình

Đảng viên Việt Tân tường thuật từ Đắk Nông

Văn Hóa Dùi Cui

January 23, 2009 by radiochantroimoi

Ngày 25 tết Kỷ Sửu, Lần đầu tiên UBND Hà nội đứng ra tổ chức” Phố Ông Đồ”, nơi vỉa hè Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nhưng nhiều cụ đồ có hàng chục năm ngồi viết thư pháp trên con phố này, như nhà Thư pháp – Tiến sỹ Cung Khắc Lược, nhà thư pháp trẻ Trịnh Tuấn…, đã tỏ thái độ phản đối BTC, bằng cách không chấp nhận vào ngồi trong”lều bạt” mà tự trải chiếu ngồi vỉa hè, như đúng câu vè “ Ông đồ vỉa hè, cụ nghè ngồi xổm”. Nhưng sau đó lực lượng cảnh sát đã thẳng tay xua đuổi các ông đồ này

Xem nguyên bài tường thuật trong trang Mai Ky blog.

image001

image004

image005

Mại Lý

January 21, 2009 by radiochantroimoi

Vũ Thạch

Nếu dùng định nghĩa của ông bộ trưởng Lê Doãn Hợp rằng “Quản Lý là Quản có Lý”, thì đúng là các vị lãnh đạo cao nhất của ông đang liên tục phóng ra nhiều kiểu biện minh “Mại Lý”, tức Bán có Lý, xuống hệ thống cán bộ, đảng viên các cấp. Mục tiêu là để từ đó lan ra dân chúng như những lời giải thích bán chính thức về những động thái của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Trung Quốc suốt hơn một thập niên qua.

Thật vậy, dù không chính thức xuất hiện trên báo, trên đài của Nhà Nước, nhưng trong những buổi gọi là “tâm tình” giữa công an và một số nhà dân chủ, giữa ban Tuyên giáo Trung ương và các ký giả, giữa các hiệu trưởng và sinh viên, giữa các đại sứ và ký giả nước ngoài, người ta bắt đầu thấy giảm hẳn những lời chối không mất đất, mất biển; Nhưng thay vào đó là những luận điểm biện minh cho hành động nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc là “có lý” và ai cũng phải làm thế thôi.

Biện minh thứ nhất của Đảng có thể tóm tắt như sau: Làm gì có chuyện “bán nước”. Vì nói tới chữ “bán” thì phải có nghĩa là người bán thu nhập được tiền. Nhưng ai cũng biết ngày nay chẳng có ông bà lãnh đạo nào nghèo cả, đặc biệt là ở thượng tầng. Gia đình họ đều giàu có cả và đều có mạng lưới làm ăn thu lợi hàng ngày. Vậy thì họ bán nước để được bao nhiêu và có đáng gì so với gia tài của họ hiện giờ không?

Có thể nói cách vịn vào chữ nghĩa để chạy tội và đánh lạc hướng vấn đề không giúp gì nhiều cho các lãnh đạo Đảng. Vì trong suốt giòng lịch sử Việt Nam, chẳng có kẻ bán nước nào nhận được tiền hay muốn nhận tiền cả, nhưng từ ngàn xưa dân tộc ta vẫn dùng chữ “mại quốc cầu vinh” để gọi loại người từ Kiều Công Tiễn, đến Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, đến Lê Chiêu Thống và đến những kẻ đang bán nước hiện nay. Tất cả những kẻ này đều giống nhau ở một điểm là họ chẳng cần nhận một đồng nào cả, nhưng tất cả đều muốn cái ghế cai trị bằng mọi giá.

Thế nhưng câu hỏi kế tiếp là những người lãnh đạo đảng CSVN đang ngồi ở ghế cai trị rồi thì cớ sao họ lại phải đi bán nuớc?

Câu trả lời hiện ra khá rõ khi nhìn lại những gì đã xảy ra trong nửa thế kỷ qua. Thật vậy, sau nhiều thập niên cậy dựa hoàn toàn vào người đồng chí Phương Bắc, có thể nói ngày nay Bắc Kinh có cả một chùm cà rốt và một bó gậy để khuyến khích lẫn hăm dọa các lãnh tụ Hà Nội phải khấu tấu trước các yêu sách của họ. Trước hết là các củ cà rốt. Các lãnh tụ gốc Việt rất cần và rất muốn được tiếp tục truyền thụ các công thức cai trị của Bắc Kinh, từ lý thuyết đến thực hành. Vì ngoài con đường mà Bắc Kinh đã đi trước thử nghiệm, các lãnh tụ tại Hà Nội dường như không dám mạo hiểm tự tìm một con đường nào khác. Bài học dò dẫm tìm đường của Gorbachev mở màn cho các xụp đổ tại Liên Sô và Đông Âu vẫn còn để lại nhiều ám ảnh, khiến Hà Nội không còn dám phiên lưu một bước nào nữa. Và vì thế mà ngày nay, người ta thấy từng điểm lý luận, từng chính sách, từng nghị quyết vừa xuất hiện tại Trung Quốc, thì chỉ mất từ 6 tháng tới 1 năm sau một bản tương tự ra đời tại Việt Nam. Thí dụ như “nền kinh tế thị trường với đặc tính Trung Quốc” không lâu sau đã trở thành “nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” tại Việt Nam, để vẫn nhân danh Chủ Nghĩa Xã Hội mà duy trì chế độ chuyên chính vô sản nhưng lại công nhận quyền tư hữu các tư liệu sản xuất để thu hút đầu tư nước ngoài. Và xa hơn những vấn đề lý luận, Hà Nội cũng được truyền thụ từ Bắc Kinh đủ loại phương pháp để mở rộng sinh hoạt kinh tế nhưng vẫn bóp nghẹt được các đòi hỏi mở rộng sinh hoạt chính trị, cũng như những phương tiện để bưng bít thông tin, mà quan trọng hơn cả là ngăn chặn, sàng lọc, và truy lùng trên Internet, v.v… Điều hiển nhiên là các món quà này không miễn phí!

Và nếu chùm cà rốt đó vẫn chưa đủ để Hà Nội phải ngoan ngoãn bước lùi, thì Bắc Kinh còn có cả một bó gậy để làm cuộc đời và cái ghế cai trị của các lãnh tụ gốc Việt mười phần gian nan. Trước hết là những tay chân của Bắc Kinh (mà dân gian gọi nhẹ nhàng là phe “thân Tàu”) đã được các trường, các cố vấn Trung Quốc đào tạo và cài cắm trong nhiều thập niên, và nay trải rộng trong cả hệ thống Đảng và Nhà Nước, từ các nhân sự trong Bộ Chính Trị, đến Tổng Cục 2 Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, v.v… Ngoài khả năng có thể đồng loạt làm rối loạn một phần lớn guồng máy cai trị của Hà Nội nếu có lệnh, các nhân sự này còn dư khả năng cung cấp cho Bắc Kinh đầy đủ dữ kiện chi tiết về đời tư, mạng lưới làm ăn, tham nhũng, và các chứng tích ăn chơi của từng lãnh tụ nào còn chưa chịu đứng vào hàng chầu Thiên Triều. Chính các “nạn nhân” của Tổng Cục 2 đã tri hô lên điều này cách đây không lâu. Khi cần thiết, các dữ kiện riêng tư này là vũ khí hữu hiệu để ép buộc đủ loại nhượng bộ.

Kế đến là những hăm dọa làm tê liệt nền kinh tế Việt Nam. Sau 2 thập niên phát triển theo hướng “ăn sổi”, không có kế hoạch dài hạn, ngày nay xã hội Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung Quốc vô số mặt hàng, đặc biệt là hầu hết các vật dụng để sinh sống hàng ngày, và ngay cả phải nhập cảng một khối lượng lớn thực phẩm và cây trái từ Phương Bắc. Với phần trăm thị trường lớn như vậy tại Việt Nam trong tay, Bắc Kinh có thể tạo đủ loại biến loạn nhân tạo — từ khan hiếm giả tạo để bất ngờ lên giá hàng loạt các mặt hàng vào tạo lạm phát, đến chủ ý xả cổng cho ngập lụt hàng hóa để giết hàng loạt các công ty nội địa và khởi động vòng xoắn giảm phát. Đó là chưa kể khả năng của Trung Quốc tung vào Việt Nam một khối lượng tiền lớn để tạo siêu lạm phát lập tức. Điều cần nói rõ đây là những tờ tiền in thật chứ không phải tiền làm giả vì Hà Nội đã nhờ Bắc Kinh in giùm tiền giấy cho Việt Nam từ lâu. Đó không phải là điều bí mật và từng được nhiều cán bộ đem ra khoe để chứng minh tình hữu nghị nồng nàn Việt Trung vào những năm cơm lành canh ngọt giữa 2 đảng. Và một khi nền kinh tế Việt Nam hỗn loạn đủ lớn thì cái ghế của những người cai trị chắc chắn sẽ không yên. Rất nhiều đồng chí của họ, ngay lúc này, đang chờ mọi cơ hội để tiến lên thay thế.

Ngoài các cây gậy đánh vào thể chất, Bắc Kinh còn có những vũ khí để đánh vào các cột trụ tinh thần mà đảng CSVN đang dùng để chống đỡ cho bệ cai trị của họ. Một trong những cột trụ quan trọng hiện nay là biểu tượng Hồ Chí Minh (HCM). Sau khi cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn các thần thánh Cộng Sản như Marx, Lenin, Stalin đều lần lượt bị lịch sử nhân loại sa thải, Hà Nội đã dành rất nhiều công sức, tiền bạc vào việc đề cao từ Tư Tưởng HCM, Tác Phong HCM, Gương Đạo Đức HCM, … và đến cả Bồ Tát HCM. Thế mà Bắc Kinh cứ rỉ rả cho tiết lộ những chứng tích kéo ngược ông HCM từ hàng thần thánh xuống hàng những con người bình thường – một ông Hồ chỉ có khả năng góp nhặt tư tưởng sẵn có của người khác mà thôi; một ông Hồ cũng để tâm yêu và cưới vợ như bao nhiêu người khác, nhưng đạo đức lại không nhiều vì khi đến bến vinh quang lại không nhìn nhận vợ cũ nữa. Các bằng chứng về bà Tăng Tuyết Minh trong cả một cuốn sách có tên “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” do chính Viện Phó Viện Khoa Học Xã Hội Quảng Tây đứng tên tác giả thì khó có thể xem đó là một hành động nghiên cứu tự phát và không có chủ ý của Bắc kinh. Và nay, một giáo sư đại học khác tại Đài Loan lại được cung cấp nhiều dữ liệu rất đặc biệt để xuất bản cả một cuốn sách có tên “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo” về gốc tích của ông Hồ. Theo kết luận của giáo sư Hồ Tuấn Hùng dựa trên các chứng tích, thì ông HCM là một cán bộ người Hẹ (Hakka) được đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa ra năm 1933, để thay thế gấp một cán bộ gốc Việt quan trọng tên Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao chết năm 1932. Đây là một lời hăm dọa khá động trời nếu Bắc Kinh cố tình đẩy sâu vào Việt Nam vì hóa ra người mà đảng CSVN buộc cả nước tôn sùng là “cha già dân tộc” chỉ là một cán bộ “lặn sâu” của Tàu và suốt đời tuân theo các chỉ thị từ bên ngoài. Hiển nhiên cả 2 cuốn sách trên đều không được phiên dịch hay lưu hành tại Việt Nam, nhưng các lãnh tụ tại Hà Nội đều thấm đòn cảnh cáo và áp lực này của Bắc Kinh. Và hơn thế nữa, họ không biết người đồng chí Phương Bắc còn bao nhiêu thứ vũ khí độc hại cỡ đó nữa trong “túi gấm”.

Ngoài cột trụ Hồ Chí Minh, Bắc Kinh cũng thường xuyên hăm dọa đẽo mòn luôn cây cột công trạng “giải phóng đất nước” của Hà Nội. Thật vậy, đảng CSVN vẫn biện minh cho việc vĩnh viễn nắm độc quyền cai trị của họ bằng cái gọi là “sứ mạng lịch sử” dân tộc Việt đã giao phó sau khi Đảng đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, v.v… Bộ mặt “vì đất nước, vì độc lập dân tộc”, “quyết tâm quét sạch ngoại bang ra khỏi bờ cõi” sẽ nhanh chóng trở nên loang lổ nếu Trung Quốc mở chiến dịch quảng bá các chứng tích tham chiến của lính Tàu trên đất Việt Nam trước năm 1975. Các chứng tích này cho thấy lãnh đạo Hà Nội đã tự nguyện rước vào và giao hẳn một phần lớn Miền Bắc cho lính Trung Quốc chiếm đóng để họ dồn quân xuống đánh miền Nam. Điều này rất khó chối cãi vì các khu nghĩa trang dành riêng cho lính Trung Quốc, phi công Bắc Hàn còn nằm trên đất Việt cho đến ngày nay. Và cứ thỉnh thoảng – nghĩa là khi cần thiết chứ không vì nghĩa vụ tảo mộ hàng năm – 2 ngài đại sứ Tàu và Bắc Hàn lại đòi đi thăm các nghĩa trang này với những đoàn phóng viên chụp hình hùng hậu theo sau.

Chỉ với một vài thí dụ về các củ cà rốt và gậy gộc đó đã đủ minh họa cho điều khá hiển nhiên tại điểm này là ngày nào những người lãnh đạo đảng CSVN còn tham vọng nắm quyền, thì ngày đó họ còn bất khả chống cự dưới bàn tay Trung Quốc và các quyền lợi của đất nước Việt Nam, kể cả lãnh thổ và lãnh hải, tiếp tục bị dâng nhượng.

Biện minh thứ nhì của Đảng có thể tóm lược như sau: Việt Nam lực yếu hơn mà muốn sống hòa bình thì phải nhượng bộ thôi. Dù là ai đang nắm quyền thì đều phải chọn giải pháp như thế cả. Chính cha ông chúng ta ngày xưa cũng phải cầu hòa với Tàu nhiều lần. Đó là cách sống khôn ngoan bên cạnh một nước lớn.

Điều làm nhiều người bực mình ngay khi nghe loại lập luận này là sự trích dẫn lịch sử quá thiếu sót và sai trật của Ban Tuyên Giáo Trung Ương. Trước hết, trong tất cả các lần chống ngoại xâm phương Bắc, không có một lần nào nước Nam ta có một quân lực hay một nền kinh tế mạnh hơn nước Tàu. Kế đến, các triều đại có công với đất nước đều chỉ khôn khéo cầu hòa SAU KHI đã đánh tan tác và chứng tỏ vô cùng rõ ràng cho Bắc Triều thấy họ không thể chiếm đóng đất nước Việt Nam; chứ cha ông ta không dâng đất nước để được sống yên ổn! Điều rất hiển nhiên là nếu cứ yếu là đương nhiên dâng nhượng thì chắc chắn sau 4000 năm đã không còn đất nước Việt Nam trên bản đồ nữa.

Do đó lập luận này của lãnh đạo Đảng qua các loa Lê Công Phụng, Vũ Dũng là hành động xuyên tạc lịch sử, trích dẫn công ơn của cha ông một cách bất lương để biện minh cho sự khiếp nhược của người thời nay.

Và nếu bảo rằng dâng nhượng lãnh thổ là “cách sống khôn ngoan bên cạnh một nước lớn” thì:

  • Quyết định chống lại quân Tàu năm 1979 của lãnh đạo Đảng thời đó là dại dột chăng? Nếu khôn ngoan như các lãnh đạo hiện giờ thì nên nhượng bao nhiêu tỉnh biên giới vào năm đó?
  • Có phải trận hải chiến Trường Sa năm 1988 là quyết định tự phát “dại dột” của hải quân Quân Đội Nhân Dân chứ không phải quyết định khôn ngoan của Bộ Chính Trị?
  • Vào cả 2 thời điểm đó, quân đội Việt Nam có mạnh hơn quân Tàu không?
  • ….

Câu trả lời ngắn gọn và chính xác cho các câu hỏi trên là Đảng và Nhà Nước CSVN chỉ dám chống trả khi có chỗ dựa – đó là dựa vào quan thày Liên Sô để trở mặt với quan thày Trung Quốc.

Ngày nay Đảng và Nhà Nước CSVN chỉ còn một chỗ dựa duy nhất để tiếp tục nắm quyền là Bắc Kinh, nên chống cự đúng là điều “thiếu khôn ngoan”. Do đó, gọi việc dâng nhượng là “cách sống khôn ngoan” thì chỉ đúng cho tương lai của lãnh đạo Đảng mà thôi.

Còn dân tộc thì mất đi vĩnh viễn từng phần thân thể quê hương. Nhiều nước trên thế giới, trong những giai đoạn yếu thế, họ phải chịu nhìn cảnh ngoại bang chiếm giữ những phần đất nhà nhưng không bao giờ công nhận hay chính thức dâng nhượng hầu con cháu còn có cơ hội lấy lại. Một thí dụ cụ thể là các hòn đảo của Nhật bị Nga chiếm đóng suốt từ sau Thế Chiến 2 đến nay. Nhật Bản hiện nay ở thế yếu về quân sự, không thể lấy lại các hòn đảo này bằng súng ống nhưng vẫn tiếp tục đòi và không hề dâng nhượng luôn cho Nga. Vì khi một phần lãnh thổ đã được chính thức ký kết dâng nhượng thì các thế hệ mai sau, dù có mạnh hơn đối phương, cũng không còn lý cớ để đòi lại nữa. Đây là những mất mát VĨNH VIỄN cho một dân tộc.

Rộng hơn nữa, trong thế giới ngày nay, một chính phủ dân chủ (tức do dân thực sự chỉ định) KHÔNG có thẩm quyền đem đất nước đi nhượng. Nếu chính phủ đó không đủ khả năng chuẩn bị đất nước chống lại ngoại xâm, họ thường đủ tự trọng và tinh thần trách nhiệm để từ chức hầu toàn dân có thể chọn một chính phủ khác có khả năng hơn. Những người lãnh đạo CSVN hiện nay thì ngược lại. Sau khi âm thầm ký nhượng hải đảo, lãnh thổ, lãnh hải, quyền khai thác biển cho ngoại bang, họ trơ mặt:

  • Giấu luôn các bản đồ ghi lại những vùng bị mất dù đã ký hàng thập niên trước.
  • Cho các quan chức của chế độ ra cãi kịch liệt rằng đó là các vùng đất của Tàu từ xa xưa, bất kể sử sách Việt Nam đã viết những gì.
  • Ra sức biểu diễn hình ảnh một Bắc Kinh hiền hòa và thân thiện, trong lúc bịt miệng thân nhân những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắn giết trên biển Đông và tiếp tục huy động toàn dân toàn đảng xì xụp bái lạy 16 chữ vàng của Thiên Triều.
  • Đàn áp, bỏ tù, trừng phạt mọi tiếng nói yêu nước đứng lên phản đối Trung Quốc, từ những nhà giáo thiết tha với tiền đồ tổ tiên đến các cựu chiến binh từng xả thân vì đất nước và các thanh niên sinh viên sục sôi danh dự Việt Nam.

Hiển nhiên, cả 4 chính sách này đều nằm trong “cách sống khôn ngoan bên cạnh nước lớn” của các lãnh tụ hiện nay.

Và sau cùng, khi 2 biện minh trên không đủ sức thuyết phục, Đảng đưa ra biện minh thứ ba trong những ngày gần đây: Thà ta chịu mất một ít đất nhưng định rõ được biên cương thì mới không tiếp tục mất thêm các phần đất khác. Đáng lẽ toàn dân phải vui mừng về tin đã hoàn tất việc cắm mốc biên giới Việt Trung.

Có lẽ so với 2 cách biện minh bên trên, biện minh thứ 3 này là loại yếu nhất vì chính đảng CSVN đã tự chứng minh điều đó không đúng trên giấy trắng mực đen. Những gì đã xảy ra trong 50 năm qua cho thấy không phải cắm được cột mốc trên đất hay vẽ được tọa độ trên biển là xong. Ai cũng có thể nhìn thấy số thương vong của ngư dân Việt dưới lằn đạn của hải quân Trung Quốc trên biển Đông không giảm mà tiếp tục gia tăng sau các ký kết phân Vịnh Bắc Bộ năm 2000. Ai cũng có thể thấy sau khi Hà Nội nhượng bộ lãnh hải và quyền đánh cá trong vịnh Bắc Bộ, thì Bắc Kinh rấn tới trong việc xây dựng các công trình quân sự trên Hoàng Sa, Trường Sa, mở dịch vụ du lịch và di dân đến các đảo này, và trắng trợn hơn cả là công khai thiết lập huyện Tam Sa để cai quản Hoàng Sa, Trường Sa vào năm 2007.

Cùng lúc, trên đất liền, suốt từ khi ký hiệp định năm 1999 với đầy đủ tọa độ và các mốc điểm địa hình, thì chính báo và đài của Nhà Nước liên tục tường thuật tình trạng căng thẳng tại các vùng biên giới từ năm này sang năm khác và kéo dài tới hiện tại. Cả lính và dân phải thường xuyên canh chừng phía Trung Quốc lấn sang đất Việt, đặc biệt là trong vùng Tục Lãm mà họ đang thèm thuồng để xây hải cảng. Chính tài liệu Vấn Đề Biên Giới Việt Trung do Nhà Nước xuất bản năm 1980 đã liệt kê 9 loại thủ thuật xâm lấn mà lính Trung Quốc thường xuyên được lệnh thi hành, đặc biệt là trò đào các cột mốc lên rồi đem trồng sâu trong nội địa Việt Nam vào ban đêm, sau đó nhanh chóng kéo dân vào các vùng mới lấn được. Cho đến nay, chẳng có chỉ dấu gì cho thấy các thủ thuật này đã được lệnh chấm dứt.

Do đó, cách nói “chịu mất một số vùng để không mất thêm nữa” chẳng khác gì kiểu lý luận hãy ném cho con cọp đói vài tảng thịt để từ nay nó thôi không rình ăn thịt người nữa. Đây là kiểu ngụy biện để tự dối mình mà thôi.

Chắc chắn các lãnh tụ hiện nay biết yếu tố quyết định trong việc có mất thêm đất và biển hay không nằm ở chỗ khác. Đó là ngày nào Bắc Kinh còn nắm đằng chuôi, nghĩa là họ biết Hà Nội không dựa vào dân tộc để đối phó với ngoại bang nhưng dựa vào các thế lực bên ngoài để cai trị ngược lại dân tộc, thì Bắc Kinh sẽ không ngừng lấn tới và ép buộc những nhượng bộ mới về đất, biển, đảo, khoáng sản, hải sản, và các quyền lợi khác của dân tộc Việt Nam. Hơn ai hết, Bắc Kinh biết rõ Hà Nội không có đường thoát. Vì cũng như họ, các nhà lãnh đạo chuyên chính vô sản đều chỉ biết và chỉ muốn dùng dân như phương tiện, và canh chừng dân như một loại kẻ thù tiềm ẩn, có thể bùng lên bất cứ lúc nào. Những ý niệm “trưng cầu dân ý”, “làm theo ý nguyện của dân tộc”, “cậy dựa vào trí tuệ và tâm huyết của toàn dân”, v.v… đều là những chuyện không tưởng, vì như thế là trao lại một phần thẩm quyền quyết định tương lai đất nước vào tay nhân dân và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngôi vị cai trị độc quyền của lãnh đạo Đảng.

Chính vì thế mà cả thế hệ lãnh đạo đảng CSVN hiện nay lẫn tương lai sẽ tiếp tục chính sách “khôn ngoan sống bên cạnh nước lớn” vô cùng tai hại đó và tiếp tục bào chế ra những ngụy biện MẠI LÝ mới.

Liệu dân tộc chúng ta có sức ngăn cản những bàn tay bán nước này lại không? và đến lúc đó thân thể quê hương Việt sẽ còn lại bao nhiêu?

Ý nghĩa của những hy sinh trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc

January 19, 2009 by radiochantroimoi

Lê Vĩnh

Trong 35 năm qua, Việt Nam đã có 3 cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Trung Quốc. Đó là: thứ nhất, trận hải chiến Hoàng Sa vào tháng giêng năm 1974; thứ hai, cuộc chiến biên giới phía bắc vào tháng 2 năm 1979 và kéo dài suốt 10 năm sau đó; và thứ ba, trận hải chiến Trường Sa năm 1988. Các yếu tố liên quan đến ba trận chiến này có những điểm nào giống nhau?

Trước hết, điểm giống nhau lớn nhất trong cả ba trận chiến này là tinh thần yêu nước của người Việt Nam trước hiểm hoạ ngoại xâm. Đây cũng là tinh thần trách nhiệm đối với tổ tiên và các thế hệ Việt Nam mai sau; và vì vậy tinh thần yêu nước này đã vượt lên trên mọi ý thức hệ, cũng như mọi nghịch cảnh của lịch sử đất nước trong những thời điểm đó. Tất cả những hy sinh của mọi con dân Việt Nam trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc vừa kể không khác gì những hy sinh của tiền nhân Việt Nam để bảo vệ bờ cõi trong lịch sử đất nước. Do đó, đất nước và dân tộc Việt Nam ghi ơn những hy sinh cao quý này như đã biết ơn các thế hệ cha ông chúng ta đã giữ nước từ nghìn xưa.

Một số t sĩ VNCH trong trn hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Một số tử sĩ VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Từ lòng yêu nước đó mà các chiến sĩ Việt Nam trong 3 trận chiến đều đã vượt qua mọi nghịch cảnh và đều thể hiện tinh thần sẵn sàng xả thân vì tổ quốc. Trong trận chiến Hoàng Sa, sau khi đã gây tổn thất nặng nề cho hải đội hùng hậu của Trung cộng, hải đội Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hoà cũng mang thương tích trầm trọng. Trong hoàn cảnh đó, trên đường hải hành trở về, khi nhận được lệnh quay trở lại Hoàng Sa tử chiến giành lại đảo, cho dù thất bại thì sẽ dùng xác tàu và xác chiến sĩ Việt Nam làm chứng tích chủ quyền quốc gia trước thế giới và các thế hệ mai sau. Với tinh thần coi chủ quyền quốc gia là tối thượng, các chiến hạm đầy thương tích của ta đã quay trở lại chiến trường, dù biết rằng sẽ phải hy sinh mạng sống, cho đến khi quân lệnh trên được hủy bỏ mới trở về. Tương tự như vậy, trong cuộc chiến biên giới phiá bắc, dù đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam giấu nhẹm bản chất và ý đồ của “đàn anh” Trung Quốc cho đến giờ chót, nhưng với tinh thần xả thân cho đất nước, thanh niên Việt Nam đã không ngần ngại đi thẳng từ nhà trường ra chiến trường. Trong trận chiến Trường Sa, mặc dù Bộ Tư Lệnh Hải Quân Quân Đội Nhân Dân đã liên tục báo cáo lên bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam về các ý đồ của hải quân Trung Quốc, hầu được trả lời câu hỏi “Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không?“, nhưng bộ chính trị không hề trả lời hay có một sự chỉ đạo nào. Tuy bị bỏ mặc như thế, nhưng các chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân vẫn tự mình gấp rút chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ hải đảo xa xôi của tổ quốc.

Tinh thần vừa kể của các chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân cũng cho thấy sự khác biệt rất cơ bản giữa đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đó là, trong khi giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đặt chiếc ghế cai trị của họ lên trên hết, thì đại khối dân tộc Việt Nam (bao gồm cả con em họ trong Quân Đội Nhân Dân) luôn coi tổ quốc Việt Nam là tối thượng. Chính vì vậy mà các chiến sĩ Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng hy sinh xương máu chống lại sự xâm lược của nước xã hội chủ nghĩa phương bắc, để bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Hiện tượng này một lần nữa cho thấy, từ đáy lòng, người chiến binh con cháu Lạc Hồng yêu tổ quốc Việt Nam chứ không quan tâm đến cái ảo ảnh gọi là “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” do đảng nhào nặn ra theo khuôn mẫu Liên Sô, Trung Quốc.

Từ sự khác biệt cơ bản này mà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn coi thường những hy sinh của những người đã nằm xuống để bảo vệ tổ quốc, mà người ta có thể thấy được qua những việc cụ thể.

Quốc Phòng Trung Quốc)

Lính Trung Quốc kiểm tra xác binh sĩ Việt Nam trong trận chiến Việt-Trung 1979. (Nguồn: Quốc Phòng Trung Quốc)

Trong khi Cộng Sản Tàu huyênh hoang trưng bày công khai trên nhiều trang điện tử những tấm ảnh binh lính Trung Quốc bước qua xác của những chiến sĩ Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc, những cảnh bắt giữ và tra khảo binh sĩ Việt Nam, và cho xây dựng đủ loại đài tưởng niệm binh lính Trung Quốc ngay tại các vùng biên giới, thì Hà Nội lại cố xoá dần các chiến binh Việt Nam ra khỏi sử sách và cấm báo, đài không được nhắc đến những hy sinh này. Đối với cuộc hải chiến Hoàng Sa của hải quân VNCH, thái độ của giới lãnh đạo đảng CSVN không làm ai ngạc nhiên. Năm 1975, tờ Sài Gòn Giải Phóng đăng lời tán dương Trung Quốc đã chiếm và GIỮ GIÙM quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Và đến năm 1979 thì các tài liệu về quan hệ Việt – Hoa không còn nhắc đến trận Hoàng Sa nữa. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn nữa, là ngay cả trận hải chiến Trường Sa của hải quân QĐND cũng bị cố tình đẩy vào bóng tối. Trong các trang quân sử chính thức ghi lại trận đánh Trường Sa, đảng cộng sản Việt Nam không dám ngay cả gọi rõ ra là hải quân Trung Quốc, mà chỉ dùng nhóm chữ “hải quân nước ngoài” trong toàn bộ tài liệu; chứ chưa nói gì đến việc đảng dám gọi những hành động của Trung Quốc là xâm lược. Và hiển nhiên khi không dám gọi Trung Quốc là kẻ xâm lược, thì lãnh đạo đảng CSVN cũng không thể giải thích lý do và càng không thể xiển dương những hy sinh cao quí của những chiến sĩ mang giòng máu Việt xả thân bảo vệ tổ quốc. Nếu dân tộc chúng ta không làm gì cả đối với 3 biến cố quan trọng này thì hàng chục ngàn người con yêu của tổ quốc sẽ vĩnh viễn đi vào quên lãng đối với các thế hệ Việt Nam tương lai.

Hiện nay, thái độ của lãnh đạo đảng CSVN xem thường giá trị của những giọt máu bảo vệ quê hương càng rõ nét, không chỉ xương máu của tiền nhân bao đời trước mà ngay cả sinh mạng của người Việt trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc vừa qua. Vì coi thường những hy sinh đó, nên đảng không những thẳng tay ký kết mà còn chẳng ngần ngại đưa ra loại người như thứ truởng Lê Công Phụng, thứ trưởng Vũ Dũng mạnh miệng cãi dùm cho Trung Quốc về những mảnh giang sơn mà máu của bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam đã đổ ra để gìn giữ, rằng đó là đất Tàu.

Lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam có thể ươn hèn phản bội và xoá mờ những hy sinh của các chiến sĩ Việt Nam, nhưng dân tộc Việt Nam nhất định sẽ không để những hy sinh xương máu cao quí trong ba cuộc chiến chống quân xâm lược phương bắc này trở thành vô nghĩa. Xin hãy cùng làm 2 việc cụ thể: Hãy sưu tầm và gìn giữ tên tuổi, thân thế của từng chiến sĩ giòng giống Lạc Hồng đã hy sinh trong cả 3 trận chiến, và quan trọng hơn nữa, hãy cùng nhau chặn đứng những bàn tay bán nước đã và đang phản bội xương máu dân tộc.

LÃNH THỔ, LÃNH HẢI TỔ QUỐC – SỰ TRĂN TRỞ CỦA MỘT SỐ CỰU CHIẾN BINH VÀ GIÁO CHỨC HÀ NỘI

January 16, 2009 by radiochantroimoi

Chúng tôi là một số CCB và giáo chức ở khu vực Hà Nội xin bày tỏ với các lãnh đạo đảng CSVN về những điều phiền muộn của mình trước tình trạng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc đang có nhiều hiện tượng rất không bình thường và đáng lo ngại.

CCB Nguyễn Hữu Thịnh, Thầy giáo Nguyễn Văn May, Thầy giáo Nguyễn Thượng Long, Thầy giáo Nguyễn Thanh Nhàn, Thầy giáo Phan Văn Hùng, Thầy giáo Vũ Mạnh Hùng

Các Cựu Chiến Binh và Thầy Giáo lên tiếng: CCB Nguyễn Hữu Thịnh, Thầy giáo Nguyễn Văn May, Thầy giáo Nguyễn Thượng Long, Thầy giáo Nguyễn Thanh Nhàn, Thầy giáo Phan Văn Hùng, Thầy giáo Vũ Mạnh Hùng

Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988. Để hợp thức hóa cho việc cưỡng chiếm hai quần đảo HS – TS, Trung Quốc ngày …đã có quyết định thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh đảo hải Nam Trung Quốc bao gồm hai quần đảo này của Việt Nam. Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man đặc biệt là vụ 9 ngư dân Hậu Lộc và Hoằng Hóa Thanh hóa bị giết hại, 8 ngư dân bị bắt ngày 8/1/2005…  Trung Quốc đã dùng sức ép buộc các công ty Bristish Petroleum của Anh, công ty ExxonMobil của Mỹ phải rút giấy phép thăm dò năng lượng trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt nam … Gần đây Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia  Trung Quốc ( CNOOC ) thông báo dự án 29 tỷ USD để phát triển các mỏ năng lượng trên suốt vùng biển đông đang bị tranh chấp mà trước đây thuộc hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo vietnamnet 10/12/2008, Cục Hải dương Trung Quốc đã họp báo công bố chủ trương khuyến khích các đơn vị, cá nhân khai thác, sử dụng các đảo không có người ở, với mục đích được gọi là “ bảo vệ chủ quyền biển của Trung Quốc ” ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hàng trăm con dân đất Việt đã dũng cảm hy sinh trong nhiều cuộc chiến không cân sức với kẻ ngoại bang để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhưng họ chưa một lần được chính thức tôn vinh công khai. Và thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận được về biên giới lãnh hải của Việt Nam trong mấy thập niên qua đã bị Trung Quốc xâm lấn thì ngày 02/01/2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột:

“Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”. Thấy điều khẳng định đó vẫn còn lỏng lẻo, ông Vũ Dũng còn củng cố thêm: “Những mạng này do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin và những ý đồ khác nhau”. Chúng tôi rất trăn trở về lời khẳng định này.

Trước hết chúng tôi xin được thắc mắc:

· Vì sao rất nhiều SGK, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006 – 2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu? Giải thích thế nào hiện nay SGK 2008 lại đưa ra con số mới cộng cả phần đất liền với phần diện tích các đảo là 331.212 km2 (Niên giám thống kê năm 2006). Vậy chính thức riêng phần đất liền theo niên giám 2006 chúng ta có diện tích là bao nhiêu?

· Thác Bản Giốc theo ông Vũ Dũng chúng ta chỉ thực sự có chủ quyền ở phần thác phụ, phần thác chính đẹp nhất, hoành tráng nhất lại thuộc về phía Trung Quốc. Trong khi đó nhiều thế hệ người Việt Nam đã được giáo dục là toàn bộ thác Bản Giốc là kỳ quan của Việt Nam, một danh thắng được in hình trong nhiều tranh ảnh, sách vở, tem thư… của Việt Nam. Trong cuốn “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” NXB Sự thật đã ấn hành sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã khẳng định : “Tại khu vực mốc 53 xã Đàn Thuỷ – huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó” (Trang 11).

· Khu vực Hữu nghị quan trước kia được gọi là Mục Nam Quan, Trấn Nam Quan, Ải Nam Quan… Ông Vũ Dũng lại tuyên bố tất cả nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc! Trong khi đó cũng theo cuốn sách kể trên lại viết: “Trung Quốc đã phá nát cột mốc 18, xoá vết tích đường Biên giới lịch sử rồi đặt cột km số 0 vào sâu lãnh thổ Việt Nam trên 100 m và coi đó là quốc giới giữa hai nước ở khu vực này”. (Trang 10).

· Chúng tôi thật sự không hiểu nổi Đảng và nhà nước CSVN phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng lại ngăn chặn, sách nhiễu, đàn áp, bắt những người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước một cách ôn hòa như : cuộc biểu tình ngày 9 và ngày 16/12/2007 để phản đối Trung Quốc có quyết định thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; cuộc biểu tình 29/4/2008, phản đối Trung Quốc chính trị hóa việc rước đuốc có liên quan đến việc sát nhập bất hợp pháp hai quần đảo HS – TS vào bản đồ của Trung Quốc.

· Chúng tôi nghĩ: Khẳng định về diện tích lãnh thổ, về vấn đề đường biên giới, vấn đề cột mốc là vấn đề hết sức hệ trọng. Vấn đề đó phải có tiếng nói của nhân dân tức là trưng cầu dân ý. Mặt khác, các quyết định của quốc hội vừa qua (nếu có) cũng không thể coi là hợp lòng dân vì khi thay đổi hiến pháp, thể chế này chưa từng bao giờ trưng cầu dân ý như quy định của hiến pháp đầu tiên năm 1946.

· Chúng tôi cũng như dư luận vô cùng phiền muộn trước vận mệnh của đất nước. Còn nhớ, tháng 12/2007 trong số chúng tôi cùng đứng tên một bức thư kêu gọi người dân có trách nhiệm trước vận mệnh đất nước – khi đó Trung quốc vừa thành lập Tam Sa. Sau đó ít lâu thầy giáo Vũ Hùng ( ở Hà Tây cũ ) đã trở thành người tù lương tâm vì đứng tên trong bức thư đó; nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Phạm Thanh Nghiên (ở Hải phòng ), nhà thơ Trần Đức Thạch (ở Nghệ An ), sinh viên Ngô Quỳnh v.v… đang bị giam giữ cũng vì những lý do tương tự. Chúng tôi tin họ là những người vô tội.

Thầy giáo Vũ Văn Hùng hiện vẫn bị giam giữ tại trại giam số 1 Hà nội với số tù 4436Z . Thầy cũng là một trong số các thầy giáo viết thư ủng hộ sinh viên biểu tình chống thành l�p Tam sa của Trung quốc.

Thầy giáo Vũ Văn Hùng hiện vẫn bị giam giữ tại trại giam số 1 Hà nội với số tù 4436Z . Thầy cũng là một trong số các thầy giáo viết thư ủng hộ sinh viên biểu tình chống thành lập Tam sa của Trung quốc.

Trong thời khắc hệ trọng này chúng tôi kiến nghị:

1. Sớm công bố chính thức bản đồ phân định biên giới, biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc song song với việc công bố công khai bản đồ phân giới giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Thanh để đối chứng. Trong gần 100 năm thuộc địa, dưới sự cai trị và bảo hộ của đế quốc Pháp chẳng lẽ đất đai của quốc gia ngày nay khi có độc lập , chủ quyền lại có chu vi và diện tích nhỏ hơn hồi mất hết chủ quyền.

2.Quốc hội, những người có trách nhiệm phải rà soát và huỷ bỏ những điều khoản luật, thông tư, chỉ thị, nghị định, quyết định … không phù hợp với nội dung và tinh thần điều 69 của hiến pháp. Để nhân dân có quyền bày tỏ và thể hiện lòng yêu nước chính đáng một cách hòa bình của mình mà không bị cản trở, ngăn chặn, sách nhiễu …như đã từng chịu đựng khi các cuộc biểu tình ôn hòa của  sinh viên và các chiến sĩ dân chủ xảy ra trong những năm qua.

3. Nếu thực sự vì nước vì dân, Đảng và nhà nước CSVN nên cầu thị, tuân theo nguyện vọng của đại đa số ngưồi dân, tôn trọng thế trận lòng dân nhằm nâng cao sức đấu tranh của nhân dân một cách hòa bình và hữu hiệu để đòi lại những phần lãnh thổ, lãnh hải bị lấn chiếm mà vẫn giữ mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt – Trung. Đừng cố tình đẩy nhiều thế hệ người Việt Nam hôm nay cũng như mai sau vào những khó khăn không đáng có khi phải tranh đấu đòi lại chủ quyền đích thực của dân tộc mình với những hậu quả để lại tương đương hay nặng nề hơn công hàm năm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi ông là đại diện đã đặt quyền lợi của đảng trên quyền lợi dân tộc, quyền lợi của chủ nghĩa cộng sản trên quyền lợi đất nước.

Một số giáo chức và CCB
ở khu vực Hà Đông – Hà Nội
đồng ký tên (14/01/2009)

Vì hoạt động tôn giáo và xã hội, Mục Sư Nguyễn Thị Hồng bị kết án 3 năm tù

January 15, 2009 by radiochantroimoi

Ngày 15/1/2009, tòa án TP.HCM đã kết án Mục Sư Nguyễn Thị Hồng, 48 tuổi, 3 năm tù giam với tội danh là “không thi hành lệnh truy nã và có những hành vi gây rối trật tự an ninh”.

Được biết MS Hồng là người hoạt động cho Giáo Hội mennonite Việt Nam, một giáo hội vẫn bị cấm hoạt động do Mục Sư Nguyễn Hồng Quang lãnh đạo. MS Hồng được thụ phong mục sư ngày 22/09/2007 và trước khi bị bắt là phụ tá giáo dục của Giáo Hội này.

Theo MS Nguyễn Hồng Quang cho biết thì trước khi bị bắt vào tháng 11/2007, MS Hồng là người rất tích cực trong công việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. MS Hồng và con cái thường xuyên tiếp tế giúp đỡ đồ ăn cho dân chúng nghèo khổ khiếu kiện tại tòa nhà Quốc Hội tại Sài Gòn năm 2007, hay thăm viếng gửi quà cho các gia đình tù nhân lương tâm như Luật sư Trần Quốc Hiền, Trương quốc Huy,… MS Hồng cũng là người thường xuyên tiếp xúc với giới công nhân, để giúp đỡ, gây dựng niềm tin.

Những hoạt động của MS Hồng đã làm cho nhà cầm quyền khó chịu. Đây là lý do chính đưa đến việc công an đã bắt giữ MS Hồng vào đầu tháng 11/2007. Nhưng để có lý cớ gìam giữ và truy tố, nhà cầm quyền Việt Nam đã dựa vào những chuyện làm ăn của vợ chồng MS Hồng cách đây hơn 10 năm để buộc tội. Đây là cách mà nhà cầm quyền đã áp dụng đối với nhà báo tự do Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải).

Người biện hộ cho MS Nguyễn Thị Hồng là LS Trần Vũ Hải đã cho hãng thông tấn DPA biết là MS Hồng bị công an bắt giữ vì lý do đã hoạt động cho Giáo Hội Tin Lành của MS Nguyễn Hồng Quang. Nhưng khi mang ra tòa xét xử, thì lại truy tố về “các hành vi chiếm đoạt tài sản” dựa trên những sự kiện đã xảy ra từ năm 1997  mặc dù các chủ nợ của bà đã bãi nại, vì vậy những dữ kiện này không đủ để truy tố và giam giữ MS Hồng.

Đây rõ ràng là một thủ đoạn của nhà cầm quyền Việt Nam nhằm trù dập một người hoạt động tôn giáo và xã hội như MS Nguyễn Thị Hồng. Đây cũng là cách mà nhà cầm quyền áp dụng để trấn áp những người hoạt động cho nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam.

Radio Chân Trời Mới

VỤ ÁN MỤC SƯ NGUYỄN THỊ HỒNG LẠI ĐEM RA XÉT XỬ

January 13, 2009 by radiochantroimoi

“Hãy trả tự do cho dân ta đi!” (Xuất 9:1c)

Sài Gòn ngày 07/01/2009

VỤ ÁN MỤC SƯ NGUYỄN THỊ HỒNG LẠI ĐEM RA XÉT XỬ

Theo thông báo của văn phòng Luật sư Trần Vũ Hải và gia đình thì phiên tòa xét xử nữ mục sư Nguyễn thị Hồng sẽ xảy ra lúc 7 giờ ngày 15/01/2009 Tại Tòa án thành phố Sài Gòn số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận I.

Chúng tôi xin có đôi nét về Mục sư Nguyễn thị Hồng như sau:

Mục sư Nguyễn Thị Hồng

Mục sư Nguyễn Thị Hồng

Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng Đại học Bách khoa Sài Gòn khóa 84. là chủ nhiệm hợp tác xã Vạn Thành và Giám đốc công ty xây dựng Tú Tri chuyên kinh doanh xây dựng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1996, công ty bị phá sản, lúc bấy giờ luật về phá sản chưa có, MS Hồng đã nỗ lực hết lòng để khắc phục thua lỗ của công ty, đã bán 2 căn nhà lầu tại đường Lê Văn Sỹ số 412 và tất cả tài sản để trả nợ, nhưng vẫn còn lại số ít không còn gì để trả nổi vả lại Chồng MS Hồng cũng tai nạn giao thông mới chết, MS Hồng có 5 con nhỏ không còn khả năng nuôi phải gửi cho bà ngoại nuôi. Không còn chỗ ở MS Hồng về tá túc nhà của một người chị em bạn dì tên là Cô Chín là một tín hữu tin lành Mennonite. Thương em thấy tình trạng chán đời tuyệt vọng không còn muốn sống của MS Hồng lúc đó, khiến Cô Chín mời Hội Thánh Mennonite chứng đạo và MS Hồng trở thành Cơ đốc Nhân, niềm tin giúp Nữ MS Hồng gượng dậy, dâng mình học trường Kinh Thánh Calvery của Singarpore, và Union College of California (Vietnamese Theological) tại Campuchia, MS Hồng đã tốt nghiệp Cao học mục vụ, được thụ phong mục sư ngày 22/09/2007 và là phụ tá giáo dục của Giáo Hội Mennonite Việt Nam.

MS Hồng như để đền đáp ơn Chúa cứu mình nên đem hết tâm huyết ra phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, đã gây dựng niềm tin cho hàng ngàn công nhân, là người trí thức lại kinh nghiệm sống đức tin Nữ MS Hồng bản chất đơn sơ hiếu học tận tình nên giúp đỡ mọi người không hề phân biệt hay có dụng ý phá hoại an ninh Quốc Gia.

MS Hồng và con cái thường tiếp tế giúp đỡ đồ ăn cho dân chúng nghèo khổ khiếu kiện Tại tòa nhà Quốc Hội phía nam năm 2007, hay thăm viếng gửi quà cho các gia đình tù nhân lương tâm như Luật sư Trần Quốc Hiền, Trương Quốc Huy, hay lưu các tài liệu nghiên cứu về tư tưởng, chính kiến lịch sử, xã hội, tôn giáo văn hóa, luật pháp; thậm chí giúp đỡ cho những người mà nhà nước Việt Nam khó chịu…

Có lẽ do vậy mà chuyện cũ dù chỉ là trách nhiệm trong quan hệ dân sự bình thường của cuộc mưu sinh đầy trắc trở là sản phẩm của nền kinh tế cho đến giờ chỉ là dọ dẫm, phiêu lưu? lại là cớ đủ để chính quyền Việt Nam khuếch đại vô lý thành trách nhiệm hình sự nặng nề để bắt giữ và giam cầm độc đoán nữ mục sư Nguyễn Thị Hồng 14 tháng qua trong trại tù khắc nghiệt!!!

Đúng ra cơ quan an ninh điều tra, viện kiểm sát… xét về nhân thân Mục sư Hồng đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hoặc tạm tha, hay tại ngoại chờ ra tòa, nhưng họ lạnh lùng giam cầm một người nữ không nhà không cửa, góa bụa đáng thương lại là một trí thức năng lực, và là một nữ tu chân thành với đạo, với đời đáng lý họ phải nâng đỡ trên danh nghĩa của một nhà nước vì dân, một nhà nước cách mạng mà họ tuyên truyền 70 năm qua cho dân việt lầm than nầy!

Hội nghị TW9 của Đảng CSVN kỳ nầy, nếu những tù nhân lương tâm chưa được đem ra thảo luận để trả tự do cho họ, quả thật không một thành tựu nào của hội nghị lại có ý nghĩa hơn trong con mắt của lương tâm nhân loại!

Mục sư Nguyễn Hồng Quang

Bản Nháp Kết Toán VN 2008

January 7, 2009 by radiochantroimoi

Xin mời bạn xem đầy đủ  bài tổng kết 4 mục 76 điểm của blogger Đinh Tấn Lực ở trang http://dinhtanluc.wordpress.com/temp/ để nhìn lại Việt Nam trong năm 2008.

Những Tuyên Bố Để Đời:

tk1a2

“Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”… “Trận mưa lụt là cuộc tổng diễn tập lớn cho tương lai”. Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị

tk1b1

“Người có vòng đo ngực trung bình dưới 72 cm không được cấp bằng lái hạng A1, tức cũng không được đi xe trên 50 cc”.  Phó Cục trưởng Cục Quản lý KCB/Bộ Y tế Trần Quý Tường

Những Sự Kiện Gây Xôn Xao Dư Luận

Biểu ngữ cầu vượt (Nam Thăng Long-Lai Cách-Lạch Tray)

Biểu ngữ cầu vượt

Tham nhũng, hối lộ ODA-PCI-Nexus

Tham nhũng, hối lộ ODA-PCI-Nexus

Những Góc Nhìn Về VN Từ Thế Giới

tk3a2

Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn thành tốt toàn bộ chiến dịch “Thành Phố Đỏ Cờ TQ” nhân cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh một cách trọng thị và an toàn. – Bắc Kinh

tk3b1

“Tôi không thể tưởng tượng và hiểu được: một dân tộc có 4000 năm văn hiến, dũng cảm, dám đánh và đã chiến thắng 4 cường quốc mạnh nhất thế giới trong chưa đến nữa thế kỷ để giành lấy Độc lập và Tự do lại để thế hệ con cháu phải đi ra làm ăn tại nước ngoài do không đủ sống, sinh ra ăn trộm?” – Tanaka Masao, cảnh sát viên Nhật Bản

tk3c1

Người Việt Nam còn thua về thu nhập cá nhân tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. – World Bank

Những Góc Nhìn VN Từ Trong Nước

tk4a1

Chồng tôi đã viết vì ‘một niềm tin lành lặn ở con người’. Giờ phút này trong trại giam, liệu anh có còn sự lành lặn nào trong tâm hồn nữa hay không? – Phùng Bích Ngọc (vợ của nhà báo Nguyễn Việt Chiến)

tk4b1

Nếu có ai vì cầu nguyện mà phải đi tù, thì tôi sẵn sàng đi tù thay cho họ! – Đức TGM Ngô Quang Kiệt. Read the rest of this entry »

Lời Cảnh Báo Quí Giá

December 31, 2008 by radiochantroimoi

Ban Biên Tập đài ChânTrời Mới

Ngay sau khi nhận được tin bãi Tục Lãm sắp mất về tay Trung Quốc, đài Chân trời Mới đã khẩn cấp loan tin này trong chương trình phát thanh hôm 11 tháng 12 năm 2008, tức chỉ 1 ngày trước cuộc họp cao cấp giữa 2 phía Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề biên giới. Bản tin nguyên văn như sau:

Tin khẩn: VN sắp mất thêm Bãi Tục Lãm, Quảng Ninh

Theo nguồn tin từ giới quân sự cao cấp Việt Nam và được kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì Bắc Kinh đang đòi buộc Việt Nam phải nhượng thêm Bãi Tục Lãm thuộc tỉnh Quảng Ninh cho họ trước khi dứt điểm kế hoạch cắm cột mốc dọc theo biên giới 2 nước. Trung Quốc đòi các lãnh tụ CSVN phải trả lời dứt khoát tại cuộc họp giữa đôi bên ngày 12/12/2008 tại vùng Hữu Nghị – Lạng Sơn.

Tục Lãm là một trong 3 điểm nóng nhất còn bàn cãi giữa đôi bên. Hai vùng còn lại là khu Bản Giốc và khu mộ Cao Bằng. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải nhượng hẳn Tục Lãm và nhượng thêm đất 2 vùng kia.

Cũng theo nguồn tin trên, các thành viên Bộ Chính Trị đảng CSVN đã nghiêng về giải pháp giao nhượng Bãi Tục Lãm bất kể sự phản đối từ phía quân đội.

Radio CTM tường trình từ Hà Nội”

Trước hết, việc Trung Quốc liên tục gây sự và lấn chiếm đất đai dọc theo vùng biên giới Tục Lãm không phải là điều mới lạ. Từ nhiều năm qua, chính báo, đài của nhà nước đã liên tục tường trình về những sự kiện này. Nhưng, thái độ khiếp nhược của nhà nước Cộng Sản Việt Nam đối với Trung Quốc đã khiến nhân dân không thể nào an tâm, khi nghe những tường trình vừa kể. Chỉ trong vài năm, nhiều vùng lãnh thổ đã đi vào lịch sử hàng trăm năm qua như Ải Nam Quan, hay nổi tiếng như Thác Bản Giốc, v.v… mà còn biến mất dần trên bản đồ Việt Nam, thì kể gì đến số phận Tục Lãm ?

Thủ thuật của những người lãnh đạo CSVN trong 2 thập niên qua là: cứ lẳng lặng ký nhượng từng phần lãnh thổ, rồi bắt đầu âm thầm xóa dần các dữ liệu về các địa danh này. Trong vị trí độc quyền kiểm soát mọi nguồn thông tin và in ấn, họ đã thẳng tay làm công việc tẩy xóa lịch sử đó, thí dụ như cục bản đồ thuộc phủ thủ tướng, năm 1972 đã bỏ Hoàng Sa – Trường Sa ra khỏi bản đồ Việt Nam. Bước kế tiếp, họ dùng các phương tiện truyền thông gieo rắc dấu hỏi về chủ quyền của Việt Nam tại các vùng đó, kể cả ngụy tạo các chứng tích. Tiếp theo, chế độ cho loại quan chức như Thứ Trưởng Lê Công Phụng xuất hiện, công khai biện bạch giùm cho Bắc Kinh rằng các vùng lãnh thổ , lãnh hải đó là của Tàu [*]. Thậm chí còn nói rằng Trung Quốc đã rộng lượng nhượng thêm đất, biển cho Việt Nam [**]. Sau cùng báo, đài ca ngợi cái gọi là sự “thành công” và “khôn khéo” của đảng đã “biết cách sống bên cạnh nước lớn”.

Điều có thể khẳng định được là, sau khi đài Chân Trời Mới chuyền lời cảnh báo rộng ra công luận, thì thủ thuật vừa nêu đã không còn áp dụng được cho vùng xương thịt Việt Nam mang tên Tục Lãm nữa. Nhờ lời cảnh báo quí giá này mà hệ thống độc quyền thông tin Nhà Nước nay không dám rút các bài về Tục Lãm trên các trang điện tử xuống, và chắc chắn sẽ không có quan chức nào còn dám đặt dấu hỏi về chủ quyền của Việt Nam đối với Tục Lãm. Hơn thế nữa, chỉ 4 ngày sau khi lời cảnh báo vang lên, ông Nguyễn Tấn Dũng, trong vai trò thủ tướng, đã vội đến thăm huyện Hải Hà, bao gồm bãi Tục Lãm, như để thanh minh với công luận rằng, ông không thuộc phe cánh chủ trương dâng nhượng phần lãnh thổ này.

Có thể phải mất hàng chục năm nữa các sử gia Việt Nam mới có cơ hội nhận dạng đầy đủ giá trị của lời cảnh báo từ các viên chức quân đội đã cứu Tục Lãm. Nhưng ở hiện tại cũng có câu hỏi được đặt ra là, nếu lời cảnh báo đó bị loan tải muộn 24 tiếng đồng hồ, tức sau cuộc họp ngày 12 tháng 12 tại Lạng Sơn, thì liệu rằng bãi Tục Lãm có còn nằm trên bản đồ Việt Nam nữa không?

Có thể nhờ may mắn mà dân tộc ta không mất Tục Lãm lần này, nhưng hiểm họa từng phần xương thịt tổ quốc bị cắt lìa, bị dâng nhượng vẫn còn nguyên đó. Liệu những phần đất sắp bị cắt lìa ngày mai có được may mắn như Tục Lãm hay không? Có được những viên chức cao cấp trong đảng còn lương tâm, tìm cách báo động sớm cho cả dân tộc biết hay không?

Chính vì vậy mà mọi người Việt Nam yêu nước trong mọi ban ngành Nhà Nước, trên mọi nẻo đường quê hương, rất cần và phải dựa vào nhau, để không chỉ canh chừng những tên giặc ngoại xâm phương bắc, mà cả những kẻ gian tham mang giòng máu Việt, nhưng sẵn sàng cắt lìa từng phần xương thịt Tổ Tiên đem bán, để giữ ghế cai trị và cào vét tài sản quốc gia vào các túi riêng.

Dân tộc Việt Nam không thể để những người nắm quyền lãnh đạo tiếp tục đặt dân tộc trước những chuyện đã rồi, như các hiệp định biên giới năm 1999 và 2000, và rồi còn mạnh miệng cãi giùm cho Bắc Kinh rằng các phần lãnh thổ, lãnh hải đó là của Tàu.

Thay mặt cho thính giả của Đài và vô số đồng bào trên cả nước, cũng như trên khắp thế giới, đài Chân Trời Mới xin chân thành gởi lòng biết ơn sâu xa đến những trái tim yêu nước trong lòng chế độ đã gởi ra lời cảnh báo quí giá về Tục Lãm./.

======

[*] ” Khi chúng ta đàm phán với Trung Quốc thì chưa có đường biên giới (trên vịnh Bắc bộ). Trên bộ thì có theo Pháp Thanh (hiệp định Pháp – Thanh), nhưng mà vịnh Bắc Bộ thì không có đường biên giới. Trước đây thì có một đường gọi là đường quản lý hành chính các đảo. Nhà Thanh với Pháp tạm thời vẽ một cái đường trung tuyến chạy từ Trà Cổ xuống (…. không nghe rõ) chứ không có đường biên gới” (Ông Lê Công Phụng trả lời phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc ngày 23/9/2008.)

Nhưng trong tài liệu của chính nhà nước Cộng Sản Việt Nam nhan đề “Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, ấn hành năm 1979, ở cuối trang 5 và đầu trang 6, đề cập đến việc phân định ranh giới giữa Việt Nam và Trung Quốc tiến hành từ tháng 1 năm 1886 đến ngày 26/6/1887. Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh Trung Quốc đã ký kết các công ước 1887 – 1895, hoạch định biên giới.

Tài liệu “Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc”, nêu trên ghi rõ việc phân chia ranh giới vịnh Bắc Bộ như sau: “ Điều 2 của công ước đã hoạch định biên giới trong vịnh Bắc Bộ và đoạn biên giới giữa Việt Nam và phần còn lại của tỉnh Vân Nam cho đến sông Đà….”

[**] “Cũng có lúc đàm phán Trung Quốc người ta xung phong hiến cho chúng tôi 3 nghìn cây số vuông ở chỗ khác để họ lấy chỗ này chỉ độ 150 cây số vuông. Nhưng mình không chịu, mình không lấy cái nước, cái mặt nước để làm gì. Mình tính cái ở dưới, vừa giữ được chủ quyền đất đai, mà vừa giữ được lợi ích cho quốc gia.” (Ông Lê Công Phụng trả lời phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc ngày 23/9/2008.)

Bản gốc bài phỏng vấn Nguyễn Trung “Người trẻ phải tự chủ”

December 29, 2008 by radiochantroimoi

Thưa các bạn sinh viên

Có một bài phỏng vẩn liên quan với chúng ta vì nó được đăng trên báo Sinh Viên Việt Nam. Người trả lới phỏng vấn là cụ Nguyễn Trung, nguyên đại sứ, nguyên thành viên ban cố vấn của thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Nội dung trả lời của cụ Nguyễn Trung đã bị toà soạn cắt xén rồi mới đăng báo.

Xin giới thiệu 2 bản (bản bị “biên tập lại” và bản nguyên dạng ban đầu) để các bạn so sánh và tự rút ra kết luận

Trần Trung Thực (sinh viên Sử, nhóm Trần Hiền Thảo)

—-

Dưới đây là bản bị cắt xén, sửa đổi để “được đăng báo”

Câu hỏi là vì sao toà soạn báo Sinh Viên VN phải làm như vậy ? Ai bắt họ phải làm như vậy ? Thế lực “thù địch” nào sợ hãi những lời thẳng thắn và tâm huyết của cụ Nguyễn Trung với giới trẻ chúng ta ?

http://www.svvn.vn/
Người trẻ phải tự chủ
26/12/2008 03:25:08

(SVVN) Chuyên gia Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, (cũng từng là Thư ký của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã tâm sự cùng SVVN về câu chuyện tự chủ của người trẻ và sứ mệnh của họ trước yêu cầu của đất nước…

Tự chủ để không “chậm lớn”

- Thưa ông, ông từng nói chúng ta vẫn còn lúng túng trong chiếc áo chật. Xin ông nói rõ hơn về cách so sánh này ?

Nền kinh tế sau hơn hai mươi năm đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và đang tràn đầy sức sống, đòi hỏi sức phát triển mới vượt ra “cái áo chật”. Ai phải làm nhiệm vụ của người nấy, song cá nhân tôi gửi gắm, trông mong rất nhiều vào các bạn trẻ.

Trong tình hình kinh tế đất nước khát bỏng động lực phát triển, xin cho tôi nói thẳng: Giới trẻ Việt Nam không nên và không được phép trẻ con quá lâu – cũng có nghĩa là không được chậm lớn quá lâu!

Với những người trẻ nghĩ lớn, mỗi bạn trẻ trưởng thành bằng chính kiến do tự mình phấn đấu xác lập nên, các bạn sẽ xác lập được vị thế của mình trong đất nước, và đất nước ta ngày càng xác lập được vị thế của mình trên trường quốc tế.

- Cụ thể sự “chậm lớn” đó là gì, thưa ông ?

So với giới trẻ nhiều nước tiên tiến, có lẽ bệnh chậm lớn của giới trẻ nước ta hôm nay chưa được chẩn đoán, xác luận cặn kẽ.

Bước vào tuổi 18 hay tròn 18 tuổi, dù là còn học tiếp hay bước vào đời, là chúng ta đã phải ý thức được đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ với tư cách người thành niên, người lớn.

Đó là ý thức: từ nay ta phải tự đứng trên đôi chân của ta; từ nay mọi việc của ta, liên quan đến đời sống của ta, do ta quyết định và tự chịu trách nhiệm; từ nay ta là công dân thành niên ngang hàng với mọi công dân trong xã hội về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước; từ nay ta là người chủ thành niên của đất nước!

Bước vào tuổi 18 chúng ta không có quyền tiếp tục là trẻ con (hoặc bị coi là trẻ con) nữa. Bước vào tuổi 18 chúng ta nhất thiết phải bắt đầu thực hiện mọi trách nhiệm và nghĩa vụ của người lớn – bắt đầu từ việc làm chủ chính bản thân mình.

Một biểu hiện nữa của bệnh “trẻ con quá lâu” hay “chậm lớn” là còn ít dám có những mơ ước táo bạo, trong khi đó thường hay nặng về những (cái xin tạm gọi là) “mơ ước tầm thường”.

… và dám ước mơ

- Thế nào là mơ ước táo bạo và mơ ước tầm thường, thưa ông ?

“Táo bạo” hay “tầm thường” trước hết cần được xem xét từ những điều kiện cụ thể và bối cảnh sống của chính mình. Táo bạo hay tầm thường được hiểu ở đây trước hết là so với chính mình, cho chính mình và thế hệ của mình.

Ngó ra bên ngoài, Bill Gates và Barack Obama là hai ví dụ điển hình của những ước mơ táo bạo. Hai người này đã chọn được ước mơ đúng – cho chính bản thân họ và cho đất nước của họ. Họ có nghị lực, trí tuệ, cách thực hiện đúng trong môi trường tự do cho những ước mơ như thế. Và họ đã thành công cho đến giờ phút này.

Ở nước ta không hiếm sự thành công của những ước mơ táo bạo, nhưng so sánh với tỷ lệ dân số và quy mô quốc gia, những ví dụ thành công ở nước ta có thể còn là ít hay quá ít – phần rất quan trọng là do những hạn chế của trình độ phát triển và những tồn tại ta đang có.

Thế nhưng chờ đợi có được trình độ phát triển và xoá được những yếu kém rồi mới dám mơ ước thì không đáng gọi là mơ ước nữa. Chẳng dám mơ ước thì chẳng bao giờ làm được gì! Bất chấp những hạn chế, ngày nay, chúng ta có điều kiện mới mà trước đây không có, hoặc khó tiếp cận, đó là: thông tin. Thông tin ngày nay đã đưa tầm mắt của chúng ta ra cả thế giới và đến mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Tuổi trẻ với tầm nhìn mới này sẽ chọn được ước mơ táo bạo, dám sống vì ước mơ táo bạo, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp bằng ước mơ táo bạo.

Ước mơ gì là cao đẹp nhất ? Câu hỏi này xưa ngàn đời, và khó ngàn đời! Câu trả lời đã có từ ngàn đời và ngàn đời nay vẫn xa vời: Tự chủ! Con người tự chủ !

Tự chủ để làm chủ

- Giới trẻ Việt Nam cần xác định cho mình vị trí nào trong quá trình đổi mới và đáp ứng những đòi hỏi của thời cuộc ?

Vị trí nào ư ? Vị trí làm chủ cuộc đời mình và để từ đó có bản lĩnh làm chủ đất nước. Phải chiếm lĩnh vị trí này, chứ không phải chỉ có xác định !

Tự các em phải tìm mọi cách đứng vào vị trí của mình, giành lấy vị trí của mình !

Điều này chẳng có gì mới, được nhắc đi nhắc lại đến mòn cả chữ.

Một khi các bạn nhìn thấu mọi chuyện, các bạn sẽ thấy rõ mình đang đứng ở đâu, xuất phát từ điểm nào và sẽ biết phải làm gì. Nhìn rõ tất cả để mỗi người phải đứng vào đúng vị trí của mình, tự mình quyết định, để vào cuộc, hướng vào một mục tiêu duy nhất.

Nhìn thẳng vào sự thật với tình yêu nước nồng cháy của tuổi trẻ, để phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, để tuyên chiến không khoan nhượng với tất cả thói hư tật xấu đang kìm hãm sự phát triển của nước ta.

- Theo ông, người trẻ cần phải chuẩn bị những gì ?

Tôi nghĩ rằng hầu hết người trẻ đều ý thức được ta là chủ cuộc đời ta và ý chí trở thành người chủ xứng đáng của đất nước.

Biết yêu trọng danh dự và yêu đất nước, quê hương mình – nguồn lực tinh thần này sẽ thúc đẩy, sẽ hướng dẫn sự chuẩn bị của mỗi chúng ta để tiếp nhận, để gánh vác trách nhiệm của mình mà thời cuộc đòi hỏi.

- Thế hệ đi trước có thể làm gì để hỗ trợ họ ?

Sao lại cứ phải nói đến hỗ trợ ? Nhưng nếu vẫn phải trả lời, thì việc đáng làm nhất trong nhiều việc người lớn phải làm để hỗ trợ là luôn thành thực với thế hệ trẻ.

- Hiện người trẻ đã được trao cơ hội và đặt niềm tin đủ để họ làm những gì mà ông kỳ vọng ?

Tôi nghĩ là chưa đủ, còn có tính “gia trưởng” của người lớn. Nói đơn giản là còn có nhiều người lớn thiếu tin tưởng vào thế hệ trẻ, rồi còn những bệnh của người lớn trong cách cư xử với thế hệ trẻ…

Xin cảm ơn ông !

Lê Ngọc Sơn – Phương Loan
(Thực hiện)

—-

http://www.viet-studies.info/
Bản gốc bài phỏng vấn Nguyễn Trung
do Lê Ngọc Sơn – Phương Loan thực hiện
(Bản đăng trên Sinh Viên Việt Nam ngày 26-12-08 đã “bị biên tập” rất nhiều)

1. Ông từng nhấn mạnh những đòi hỏi cấp bách của đổi mới, cải cách đối với Việt Nam sau 22 năm đổi mới. Với riêng giới trẻ, đòi hỏi này đặt ra như thế nào, thưa ông ?

Nếu được phép nói thẳng thắn suy nghĩ của tôi về chính thế hệ mình, xin thưa: Trong sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ hôm nay trước thách thức mới của đất nước, thế hệ đi trước – trong đó có tôi – đã phạm nhiều lỗi lầm, làm cho thế hệ trẻ ngày nay của đất nước ta bị chậm trễ. Cá nhân tôi thực sự ăn năn về điều này.

Tôi cho rằng thế hệ chúng tôi đã phạm không ít lỗi; do nhiệt tình cách mạng, do sự bất cập.., và nhiều người trong thế hệ chúng tôi đang ngày càng phạm nhiều lỗi do tha hóa nữa. Mọi yếu kém của chúng tôi để lại nhiều hệ quả cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Mong giới trẻ hôm nay hãy dám và quyết nhận thức đất nước này là của các em và tự quyết định tất cả từ nhận thức này!

Các em hãy nhìn vào khoảng cách tụt hậu kinh hoàng so với thế giới bên ngoài mà đất nước đang phải đối mặt ở thế kỷ 21. Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của ta so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế tri thức!

2. Con đường trở thành người đi làm thuê và đất nước cho thuê? Đề nghị ông nói rõ nỗi lo này của ông.

Vâng. Lao động cơ bắp, bán tài nguyên, cho thuê địa điểm sản xuất và bán môi trường vẫn là các yếu tố tăng trưởng chủ yếu trong nền kinh tế nước ta. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) ta thu hút được trong 20 năm qua rất nhiều, song một bộ phận khá lớn cũng là để sử dụng những yếu tố vừa kể trên. Nền kinh tế nhiều năm liền có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng trình độ phát triển mọi mặt còn rất thấp. Tình hình này trong một thời đoạn nhất định là cần thiết, song sau 22 năm mà ngày nay còn kiên trì xu thế tăng trưởng và phát triển như vậy là nguy hiểm. Đã đến lúc phải chuyển mạnh sang một phương hướng phát triển khác: Ngày càng nhiều sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn, ngày càng nhiều sản phẩm của thương hiệu Việt Nam với giá trị gia tăng ngày càng cao, nhất là ngày càng nhiều sản phẩm của trí tuệ Việt Nam.

Trên hết cả là phải sớm thoát khỏi tư duy của kẻ làm thuê, phải luôn cảnh giác với nguy cơ biến đất nước mình thành đất nước cho thuê – với nghĩa là một đất nước thiếu sự phát triển năng động tự nó từ bên trong !

Nói như thế, ông không sợ mang tiếng là xúi giục thế hệ trẻ chúng tôi vong ân bội nghĩa và làm loạn ?

- Không !

Xong hoặc chưa xong, thế hệ chúng tôi đã làm công việc của mình, đã và đang trở thành quá khứ. Không có lý do gì cho phép thế hệ này tự phong cho mình là khuôn vàng thước ngọc cho thế hệ tiếp theo. Tự phong như vậy không khác gì là xây dựng con đường cho đất nước đi lên, song chính bản thân mình lại ngồi chễm trệ án ngữ trên đoạn đường thế hệ mình vừa mới xây xong.

Tự phong như thế, thì đời đời kiếp kiếp nước ta sẽ sống trung thành trong cái quán tính lịch sử của sự tụt thậu, mà đúng ra là phải khắc phục nó bằng được. Năm Mậu Ngọ (1858 – Pháp đánh Đà Nẵng và mở đầu thời kỳ thuộc địa ở nước ta!) cái quán tính lịch sử cay đắng ấy đã mở đầu một chu kỳ mới của nó mà đến hôm nay dân tộc ta vẫn chưa trả giá xong. 150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 5 cuộc chiến tranh lớn – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 30 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay vẫn là một nước nghèo.

Xin giới trẻ hãy ý thức điều này: Làm gì thì cũng phải tự giải phóng mình ra khỏi cái bóng của chúng tôi trước đã !

Xin hãy nhìn lại, cho đến đầu thế kỷ 19, Việt Nam đâu có thua kém gì Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan… Thế nhưng hôm nay ?

Xin cũng đừng nói là các thế hệ Việt Nam trước Mậu Ngọ (1858) yêu nước không bằng các thế hệ Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám.

Trong mối tương quan với đương thời, các thế hệ Việt Nam trước Mậu Ngọ cũng không kém sáng suốt so với các thế hệ Việt Nam hôm nay đâu.

Cho nên, kẻ thù đích thực làm cho nước ta rơi vào tay thực dân Pháp hồi ấy là đất nước ta tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển so với thế giới bên ngoài. Kẻ thù tụt hậu ấy hôm nay vẫn chưa bị dân tộc ta giải giáp.

Nhận thức trách nhiệm của mình đối với đất nước trước thời đại ngày nay, không thể không nhận diện tường tận kẻ thù này.

3. Giới trẻ Việt Nam cần xác định cho mình vị trí nào? Trách nhiệm của giới trẻ với một đất nước ở tuổi trưởng thành là gì ?

Vị trí nào ư ? Vị trí làm chủ cuộc đời mình và để từ đó có bản lĩnh làm chủ đất nước. Phải chiếm lĩnh vị trí này, chứ không phải chỉ có xác định! Điều này chẳng có gì mới, được nhắc đi nhắc lại đến mòn cả chữ. Bây giờ phải hành động.

Nền kinh tế đất nước đang ở tuổi hai mươi, nên được hiểu đó là đất nước đang tràn đầy đòi hỏi sức phát triển trong “cái áo chật”, mọi thế hệ già trẻ chúng ta hiện nay đứng trước nhiệm vụ phải mang lại cho nền kinh tế sức sống năng động, bền vững, trong cái “áo mới” . Ai phải làm nhiệm vụ của người nấy! Song cá nhân tôi gửi gắm trông mong rất nhiều vào các bạn trẻ.

Bàn về trách nhiệm của giới trẻ:

Tôi nghĩ trong tình hình “cái áo chật” như thế của đất nước, trong tình hình kinh tế đất nước khát bỏng động lực phát triển, xin cho tôi nói thẳng thắn một cách lỗ mãng: Giới trẻ nước ta cũng không nên và không được phép trẻ con quá lâu nữa – cũng có nghĩa là không được chậm lớn quá lâu!

Trẻ con quá lâu hay chậm lớn, trước hết ở chỗ khó mà nói rằng khi chúng ta bước vào tuổi 18 hay tròn 18 tuổi, dù là còn học tiếp hay bước vào đời, là chúng ta đã ý thức được đầy đủ: Từ nay ta phải tự đứng trên đôi chân của ta! Từ nay mọi việc của ta, liên quan đến đời sống của ta, do ta quyết định và tự chịu trách nhiệm!.. Từ nay ta là công dân thành niên ngang hàng với mọi công dân trong cả nước về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước! Dù là bạn còn cha mẹ phải tiếp tục nuôi ăn học, dù là bạn còn phải sống nhờ vào nguồn trợ cấp nào đó cho việc học hành của mình… Tất cả sự phụ thuộc như thế và tương tự như thế không hề miễn giảm mảy may trách nhiệm và nghĩa vụ của bạn với tư cách là người thành niên, người lớn.

Bước vào tuổi 18, kể cả ngồi trên ghế nhà trường, tuổi trẻ chúng ta không còn được phép để cho ai muốn nhồi vào đầu mình cái gì cũng được. Chẳng có đáp án nào có sẵn các bạn phải tuân theo của sự nhồi nhét cả! Các bạn có quyền nhận hay từ chối, trên cơ sở phán định của chính mình.

Một biểu hiện nữa của bệnh “trẻ con quá lâu” hay “chậm lớn” là còn ít dám mơ ước táo bạo, trong khi đó thường hay nặng về những cái xin tạm gọi là “mơ ước tầm thường”.

Trước khi bàn sâu thêm chuyện này, hãy ngó ra bên ngoài một chút. Theo tôi Bill Gates và Barack Obama là hai ví dụ điển hình của những ước mơ táo bạo. Hai người này đã chọn được ước mơ đúng – cho chính bản thân họ và cho nước Mỹ. Họ có nghị lực, trí tuệ, cách thực hiện đúng trong môi trường tự do cho những ước mơ như thế. Và họ đã thành công cho đến giờ phút này.

Ở nước ta không hiếm sự thành công của những ước mơ táo bạo – có thể chưa được nổi bật hoặc chưa ở tầm vóc như hai ví dụ trên. Các ví dụ thành công ở nước ta có thể còn là ít hay quá ít – phần rất quan trọng là do những hạn chế của trình độ phát triển và thể chế nước ta đang có. Thế nhưng chờ đợi có được trình độ phát triển và thể chế như mong muốn rồi mới dám mơ ước thì không đáng gọi là mơ ước nữa. Và chính đây là điều đáng nói: Chẳng dám mơ ước thì chẳng bao giờ làm được gì!

Đúng, bất chấp mọi hạn chế chúng ta phải đối mặt trong cuộc sống, chúng ta ngày nay đang có một điều kiện mới mà trước đây chúng ta chưa có nhiều hoặc rất khó tiếp cận: đó là thông tin. Thông tin ngày nay đã đưa tầm mắt của chúng ra cả thế giới và đến mọi lĩnh vực của cuộc sống. Tôi ước ao tuổi trẻ chúng ta với tầm nhìn mới này sẽ chọn được ước mơ táo bạo, dám sống vì ước mơ táo bạo, ý chí lập thân, lập nghiệp bằng ước mơ táo bạo.

Vậy nói thật đơn giản: Trách nhiệm của giới trẻ với đất nước đang ở tuổi trưởng thành là các bạn phải sớm trở thành người lớn.

4. Chính kiến tự mình phấn đấu xác lập nên ? Thế còn các chương trình, giáo án, đáp án, giáo lý… đã trở thành những phần cứng phải có được mang tới từ nhà trường ? Ngộ cái chính kiến mà tuổi trẻ chúng tôi tự phấn đấu xác lập nên không giống cái chúng tôi được học thì sao ?

Nếu có sự khác nhau thì cũng nên coi đó là chuyện bình thường và tự mỗi bạn nên tiếp tục tìm ra lý lẽ giải quyết sự khác nhau này. Tôi nghĩ, ngay cả những điều tốt đẹp nhất nhà trường có thể đem lại cho bạn, bạn cũng phải tìm cách hấp thụ được thành dinh dưỡng nuôi sự hiểu biết và ý chí của bạn, biến nó thành nghị lực của riêng bạn. Không có sự hấp thụ này, việc học sẽ giống như con vẹt học nói thôi – nó có thể phát âm rất chuẩn và làu làu cả câu, cả bài.., nhưng vẫn là cái nói của một con vẹt. Tôi hình dung được tự phấn đấu xác lập nên như vậy khó và đòi hỏi nhiều trí tuệ lắm, thậm chí có khi phải trả giá nguy hiểm nữa. Song trong quá trình hấp thụ này các bạn có quyền nghi ngờ, có quyền sai, và thậm chí có quyền thất bại nữa, miễn là bạn phải tự ý thức được tất cả và tự chịu trách nhiệm tất cả, quyết tâm đi tiếp tới bằng được cái đúng.

Chỉ có như vậy, cái tốt đẹp nhà trường mang đến cho bạn mới thành là của bạn. Chỉ có như vậy, bạn mới đề kháng được mọi cái không tốt đẹp bất kỳ đến từ đâu. Vì đứng trên đời này, bạn cần như nhau cả nghị lực và sức đề kháng.

Tôi nghĩ, một con người dám nghi ngờ, dám sai, dám thất bại để tìm đường đến thành công, tôi nghĩ đấy là một con người đẹp và sớm muộn sẽ thành đạt.

Một xã hội biết tôn trọng sự nghi ngờ, tôn trọng cái dám sai, cái dám thất bại với tình thần như thế, xã hội ấy sẽ ngày càng hiếm chỗ cho những thói đểu cáng và sự hèn mạt. Xã hội ấy sẽ ngày càng hấp dẫn chúng ta và đáng sống.

5. Những đòi hỏi đó có quá sức với người trẻ Việt nam hiện nay ?

Tôi không thấy có sự “quá sức” như thế trong cuộc sống hàng ngày, mà chỉ thấy nhiều hơn sự lãng phí sức trẻ, lãng phí đến rơi nước mắt, xẩy ra từ hai phía: (1) Cuộc sống xã hội gây ra sự lãng phí này; và (2) tự các bạn lãng phí sức mình.

Chưa nói đến biết bao nhiêu cái bất hợp lý và yếu kém khác trong đời sống xã hội, riêng nền giáo dục còn nhiều mặt thiếu sót như chúng ta đang có là một ví dụ trực tiếp nhất, dễ thấy nhất về sự lãng phí này gây ra cho giới trẻ, sự lãng phí những thứ thể không mua được, không có cách gì lấy lại được: con người, thời gian và cơ hội.

Còn sự lãng phí tự mình – nghĩa là chính các bạn gây ra cho mình: Chắc chắn các bạn sẽ tự đánh giá được. Tôi chỉ muốn lưu ý các bạn về 2 nguyên nhân đáng sợ nhất: (1) lãng phí vì sự hiểu biết của mình còn thấp, (2) lãng phí vì mình thỏa hiệp với yếu kém của bản thân và của ngoài xã hội.

6. Người trẻ cần phải chuẩn bị những gì để tiếp nhận gánh vác những đòi hỏi của thời cuộc ?

Tôi không có lý thuyết nào để trả lời các bạn cả. Mỗi chúng ta dù khác nhau thế nào, đều nhận được sự nuôi dưỡng của cha mẹ, nhà trường và cuộc sống. Đó là chuẩn bị được trao tặng để chúng ta bước vào đời. Cần trân trọng và tận dụng sự chuẩn bị được trao tặng này. Song thế nào đi nữa, cũng không thể thiếu được sự chuẩn bị của chính mình – chắt lọc từ sự chuẩn bị được trao tặng, từ mơ ước, từ cả những thất bại và sự trả giá… – tất cả với ý thức ta là chủ cuộc đời ta và ý chí trở thành người chủ xứng đáng của đất nước ta.

Sống biết yêu trọng danh dự và yêu đất nước quê hương mình – nguồn lực tinh thần này sẽ thúc đẩy, sẽ hướng dẫn sự chuẩn bị của mỗi chúng ta để tiếp nhận, để gánh vác trách nhiệm của mình mà thời cuộc đòi hỏi. Thậm chí tôi còn muốn nói: Yêu như thế là kim chỉ nam luôn luôn đúng.

7. Đối với cá nhân con người, theo ông ước mơ gì là cao đẹp nhất ?

Câu hỏi này xưa ngàn đời, và khó ngàn đời! Câu trả lời đã có từ ngàn đời và ngàn đời nay vẫn xa vời: Tự do ! Con người tự do !

Tạo hóa một tay ban cho con người bản tính tình yêu tự do, tay kia lại thiết lập ra trong cuộc sống cái gọi là “tính tất yếu”. Từ đó trong cuộc sống tự nó hình thành ra cái tự do thực sự chỉ có thể là cái đạt được trong phạm vi hiểu được – với nghĩa là làm chủ được – cái tất yếu. Vì thế, càng sống trên đời này, tôi càng thấm thía tự do chỉ có thể giành lấy, trên cơ sở làm chủ cái tất yếu; làm chủ cái tất yếu đến đâu, sẽ có được tự do đến đấy. Đừng oán trách tạo hóa keo kiệt, tôi dần dần cũng ngộ ra như thế.

8. Thế hệ đi trước có thể làm gì để hỗ trợ họ ?

Tôi thực lòng không thích trả lời câu hỏi này. Sao lại cứ phải nói đến hỗ trợ? Nhưng nếu vẫn phải trả lời, thì việc đáng làm nhất trong nhiều việc người lớn phải làm để hỗ trợ là đừng bao giờ nói dối thế thệ trẻ.

9. Liệu người trẻ đã được trao cơ hội và đặt niềm tin đủ để họ làm những gì mà ông kỳ vọng ?

Tôi nghĩ là chưa đủ. Cái tính “trưởng”, “gia trưởng”.. của người lớn cho thấy sự thiếu tin tưởng vào thế hệ trẻ. Ngoài ra còn biết bao nhiêu bệnh mãn tính khác của người lớn trong cách cư xử với thế hệ trẻ, nhất là cái bệnh coi ta là chân lý, chân lý duy nhất trên đời này. Nói gay gắt, đấy là cái tính thích thế hệ trẻ trở thành các robot do người lớn lập trình!

10. Bản thân các nhà lãnh đạo hiện nay đã đánh giá đúng và đủ về giới trẻ và đã tận dụng sức trẻ, huy động họ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ?

Tôi nghĩ là chưa. Chỉ riêng một việc lãnh đạo không kiên quyết dấy lên trong toàn xã hội một cuộc đấu tranh quyết liệt với cách dậy học còn nặng về nhồi sọ, và chỉ muốn ĐTNCS Hồ Chí Minh chỉ là cánh tay của Đảng đã nói lên điều này. Tại sao thanh niên thời đại ngày nay không thể là những bộ não trẻ của Đảng ? Tại sao thanh niên không thể là người tạo ra trong Đảng bầu nhiệt huyết mới, trẻ trung ?

Tại sao thế hệ chúng tôi không đặt ra cho mình nhiệm vụ tạo dựng ra một môi trường thể chế ươm mầm và làm nẩy nở những Bill Gates hay Obama của Việt Nam ? Thế hệ chúng tôi làm chưa xong thì thế hệ các bạn phải làm tiếp, các thế hệ sau làm tiếp nữa… Song trách nhiệm “khởi công xây dựng” sự nghiệp này thuộc về chúng tôi, chúng tôi chẳng có lý lẽ gì để trốn tránh được.

Song hình như công việc “khởi công xây dựng” như thế còn chậm chạp lắm, mặc dù công cuộc đổi mới đã được 22 năm và đã xác định được mục tiêu là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh! Đấy là điều tôi vô cùng băn khoăn.

Tôi tin: Thế hệ trẻ đứng vào vị trí của mình, đất nước sẽ sớm được ngửng mặt cùng thiên hạ.

Nhân dịp năm mới 2009, xin chúc các em một năm giầu nghị lực và niềm vui.

26-12-08

ĐƠN TỐ CÁO Cơ quan điều tra Tổng cục An ninh bộ Công an và Tổng biên tập một số báo vi phạm pháp luật

December 22, 2008 by radiochantroimoi

ĐƠN TỐ CÁO

(Cơ quan điều tra Tổng cục An ninh bộ Công an và Tổng biên tập một số báo vi phạm pháp luật)

Kính gửi:
- Ông Chủ tịch và các vị đại biểu Quốc hội
- Ông Chủ tích nước Nguyễn Minh Triết.
- Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
- Ông Chủ tịch và các thành viên trong Ủy ban TW MTTQ Việt Nam.
- Ông Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao.
- Ông Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao.
- Các Tổng biên tập các báo và tạp chí trong nước.

Chúng tôi là những công dân của đất nước mà phần lớn đã về hưu, nhiều người đã ở tuổi 70-80, nhưng vẫn thường xuyên quan tâm theo dõi và bức xúc trước nhiều vấn đề của đất nước hiện nay: tình hình lạm phát và giảm phát, suy giảm kinh tế, tình trạng tham nhũng tràn lan và chống tham nhũng kém hiệu quả, vụ PCI và chính phủ Nhật tuyên bố dừng viện trợ ODA, thái độ của Chính phủ Việt Nam và Nhà nước Việt Nam trước những hoạt động của nhà cầm quyền Trung Quốc nhằm thôn tính lãnh thổ của ta, tình hình xuống cấp trầm trọng đạo đức xã hội, khủng hoảng trầm trọng nền giáo dục,… Hàng ngày, hàng giờ chúng tôi muốn đóng góp ý kiến xây dựng với các cơ quan lãnh đạo để góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội v.v…

Đầu tháng 12/2008 đột nhiên chúng tôi thấy một số báo đăng một loạt bài, như một chiến dịch để tấn công vu khống, hạ nhục một loạt các công dân. Cụ thể các bài báo sau:

  1. Sự thật về “tờ báo lậu” Tổ quốc (báo Công an TP HCM ngày 06/12/2008).
  2. Đội lốt “dân chủ” ăn chặn đô la (báo Công an Nhân dân ngày 06/12/2008).
  3. Bóc trần bộ mặt kẻ chống phá dân tộc (Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 6/12/2008. http://www.cpv.org.vn/)
  4. Chân dung các “nhà dân chủ” thích… USD, Bóc trần bộ mặt kẻ chống phá Nhà nước (Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 06/12/2008)
  5. Chân dung các “nhà dân chủ” thích… USD (Báo điện tử Vietnamnet http://vietnamnet.vn/) ngày 06/12/2008.
  6. Bóc trần bộ mặt kẻ chống phá Nhà nước (Báo Hà Nội mới bản giấy và bản điện tử http://www.hanoimoi.com.vn/) ngày 06/12/2008
  7. Bộ mặt thật của những “nhà dân chủ” (báo Đất Việt ngày 06/12/2008).
  8. Những hành vi lạc lõng xấu xa, đáng lên án (báo Nhân Dân ngày 13/12/2008).

Hầu như tất cả các bài báo vu khống nêu trên được xuất hiện dưới hình thức một bản tin tổng hợp, một bản thông báo. Qua tìm hiểu sơ bộ chúng tôi được biết đó là bản thông tin tổng hợp của Cơ quan điều tra thuộc Tổng cục An ninh Bộ Công an. Điều lạ lùng khiến chúng tôi không hiểu nổi là các Tổng biên tập các báo trong khi chưa hiểu gì về nội dung sự việc cụ thể, nhưng lại dám qui kết có tính chất buộc tội một loạt công dân là “những phần tử cơ hội chính trị”, trong đó có nhiều người là trí thức ( tiến sỹ khoa học, nhà báo, nhà văn, kỹ sư, luật sư, bác sỹ…), nhà cách mạng lão thành. Chúng tôi xin liệt kê vài trường hợp làm ví dụ sau đây:

  1. Cụ Trần Lâm – 85 tuổi, luật sư, nguyên là thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao.
  2. Đại tá Phạm Quế Dương – 73 tuổi, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân đội.
  3. Cụ Lê Hồng Hà-83 tuổi, nguyên Chánh văn phòng, nguyên Ủy viên Đảng Đoàn Đảng CS Việt Nam của Bộ Công an.
  4. Ông Hà Sỹ Phu (Nguyễn Xuân Tụ) – 69 tuổi, tiến sỹ sinh học, nguyên Phó viện trưởng phân Viện Đà Lạt của Viện Khoa học Việt Nam.
  5. Ông Bùi Minh Quốc – 69 tuổi, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà thơ nổi tiếng.
  6. Nguyễn Thượng Long – Nhà giáo, nhân vật “Người đương thời” chống tiêu cực trong giáo dục năm 2006.

Căn cứ vào Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật Hình sự, Luật An ninh Quốc gia, các cá nhân, cơ quan đã dựng lên các bài báo trên đây đã vi phạm các điều luật sau đây:

  1. Điều 72 Hiến pháp: “Không ai bị coi là có tội,… khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”

  2. Điều 10 khoản 4 Luật Báo chí: “Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự nhân phẩm của công dân.”

  3. Điều 121 khoản 1 Luật hình sự: Tội làm nhục người khác.

    “1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

  4. Điều 122 Luật hình sự: Tội vu khống.     

    “1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hai đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

  5. Điều 5 khoản 1 Luật An ninh Quốc gia: Nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.     

    “1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

  6. Điều 13 khoản 6 Luật An ninh Quốc gia: Các hành vi bị nghiêm cấm.     

    “6. Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân.”

Chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu vì sao các ông Tổng biên tập các báo nói trên, thường được cho là những người hiểu biết về chính trị và luật pháp, lại cho đăng những bài báo vi phạm Hiến pháp và pháp luật như vậy. Theo kết quả bước đầu của việc tìm hiểu, chúng tôi thấy Tổng biên tập của 08 tờ báo nói trên đều biết rõ những nội dung đăng báo là ý kiến của cơ quan điều tra thuộc Tổng cục An ninh Bộ Công an (như báo Đất Việt đã ghi rõ nguồn thông tin trong bài báo ngày 06/12/2008).

Vậy phải chăng vì có sự xúi giục của công an nên các Tổng biên tập các báo (nêu trên) đã phải cho đăng những thông tin sai phạm như vậy ?

Phải chăng một số cán bộ công an đã tự cho mình có quyền lực đứng trên pháp luật ?

Phải chăng một số cán bộ công an cho rằng họ đang thực hiện một chiến dịch đả kích các “lực lượng chống đối” để đảm bảo an ninh quốc gia ?

Theo chúng tôi các cán bộ công an đó không những đã cố tình vi phạm pháp luật mà còn có thái độ thù địch sai lầm đối với những người có ý kiến khác biệt với lãnh đạo. Trong khi nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải thừa nhận rằng việc có ý kiến khác biệt là chuyện bình thường và cần phải tôn trọng những người có chính kiến khác biệt.

Trong tình hình đất nước của chúng ta đang rơi vào tình thế nguy cấp như hiện nay (kinh tế bị suy giảm trầm trọng, bất ổn xã hội đang gia tăng, nạn tham nhũng đang hoành hành và lãnh thổ quốc gia đang bị xâm chiếm, uy hiếp,…) thì những hành động vu khống, bịa đặt của các báo nói trên có thể nằm trong một âm mưu thâm độc nhằm:

  1. Chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân trước dã tâm thôn tính lãnh thổ Việt Nam của chính quyền Trung Quốc,
  2. Đánh lạc hướng dư luận xã hội trước những khối ung nhọt tham nhũng đang bị vỡ lở (liên quan đến hàng triệu đô-la Mỹ),
  3. Làm thể chế chính trị mất thêm uy tín trước cộng đồng quốc tế,
  4. Đe dọa, trấn áp những ý kiến xây dựng đất nước, chống lại sự suy thoái, tiêu cực đang lan tràn trong xã hội và
  5. Làm cho suy sụp lượng kiều hối quí giá của đồng bào hải ngoại đang góp phần quan trọng cho phục hồi kinh tế đất nước.

Không phải ngẫu nhiên, ngay sau ngày 05/12/2008 khi Nhật Bản tuyên bố dừng viện trợ ODA do vụ việc nhận hối lộ hàng triệu Đô-la của phía Việt Nam chưa được làm rõ, các bài báo nói trên đã được tung ra gần như đồng loạt và vu khống, bôi nhọ hầu như đủ mọi thành phần trong xã hội từ lão thành cách mạng, cán bộ cao cấp về hưu, trí thức có uy tín,… cho đến những nông dân, tiểu thương, sinh viên. Trong khi các thông tin về vụ việc tham nhũng hàng triệu Đô-la trong vụ PCI (phía Nhật Bản đã đưa ra tòa) hầu như không được đề cập trên báo chí Việt Nam.

Với tâm nguyện đóng góp ý kiến để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ Quốc, bảo vệ uy tín nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế và góp phần vào việc xây dựng đất nước dân chủ, giàu mạnh. Chúng tôi trình lên Quí ngài những kiến nghị sau đây:

  1. Ông Bộ trưởng Bộ công an cho kiểm tra ngay sự việc và thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ đã có hành động sai phạm trên đây.
  2. Ông Bộ trưởng Bộ Thông tin, Truyền thông có buổi làm việc với các Tổng biên tập các tờ báo trên đây để rút kinh nghiệm và thông báo công khai nhằm hướng hoạt động báo chí vào quĩ đạo chỉ tuân thủ pháp luật.
  3. Các ông Tổng biên tập các báo trên đây phải đăng công khai lời xin lỗi độc giả và những cá nhân bị ảnh hưởng về danh dự do các bài báo trên gây ra. Và hứa sau này sẽ không làm những điều dại dột, thất nhân, thất đức như vậy nữa.
  4. Ông Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao, theo đúng chức năng và quyền hạn của mình, cho tiến hành điều tra ngay để xử lý các cá nhân chủ mưu trong các hành động vu khống kể trên theo đúng pháp luật và ngăn chặn những âm mưu thâm độc khác có thể xảy ra.

Chúng tôi hy vọng sẽ không có việc dung túng bỏ qua những hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào trong vụ việc trên đây và chúng tôi sẵn sàng cộng tác với các cơ quan có trách nhiệm trong sự việc này.

Kính đơn,

Những người ký đơn:

1. Trần Bá – 53 Cầu Gỗ, Hà Nội.
2. Trần Lâm – Hải Phòng.
3. Phạm Hiện – Hà Nội.
4. Phạm Quế Dương – 37 Lý Nam Đế, Hà Nội.
5. Vi Đức Hồi – Lạng Sơn.
6. Nguyễn Thượng Long – Hà Nội.
7. Vũ Cao Quận – Hải Phòng.
8. Nguyễn Thanh Giang – Số 06, TT Địa lý Máy bay-Trung Văn – Từ Liêm, HN.
9. Đoàn Thiên Tâm – Ba Đình, Hà Nội.
10. Hồng Hà – 62 Ngô Quyền, Hà Nội.
11. Trần Anh Kim – Thái Bình.
12. Hà Sĩ Phu – Đà Lạt.
13. Văn Hưởng – Hà Nội.
14. Xuân Mai – Đà Nẵng.
15. Bùi Minh Quốc – Đà Lạt.
16. Thích Tâm Long – Hà Nội.
17. Hoàng Thị Vân – Hà Nội.
18. Tiêu Dao Bảo Cự – Đà Lạt.
19. Tô Huy – Hải Phòng.
20. Đức Anh – TP Hồ Chí Minh.
21. Lý Thái Hùng – Hải Dương.
22. Nguyễn Thế – Hà Nội.
23. Lê Hữu Diệp – Hà Nội.
24. Lý Anh Kim – Hà Nội.
25. Nguyễn Trọng Lân – Hoàn Kiếm, Hà Nội.
26. Lê Anh Sơn – Hai Bà Trưng, Hà Nội.
27. Văn Chương – Hưng Yên.
28. Văn Thục – TP Hồ Chí Minh.
29. Tiến Nghênh – Hà Nội.
30. Trần Qui – Hà Đông, Hà Nội.
31. Mai Lâm – Hoàng Mai, Hà Nội.
32. Dương Văn Khôi – Hai Bà Trưng, Hà Nội.
33. Bích Thủy – Thanh Xuân, Hà Nội.
34. Đỗ Trần – Hoàng Mai, Hà Nội.
35. Thế Kỷ – Q3, tp Hồ Chí Minh.
36. Bùi Xuân Minh – Hà Nội.
37. Nguyễn Thị Minh – Hà Nội.
38. Phan Hòa Bình – Hoàng Mai, Hà Nội.
39. Lã Xuân Thịnh – Thanh Hóa.
40. Đinh Ngọc Lễ – Hòa Bình.
41. Bùi Thị Lăng – Việt trì, Phú Thọ.
42. Nguyễn Thị Cương – Hà Nội.
43. Hồ Thị Vui – Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2008

Gửi kèm :
- Các cơ quan báo chí trong và ngoài nước
- Mọi cá nhân quan tâm

Thư phúc đáp của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam gởi Ông Chủ Tịch UBND TP. Hà Nội

December 22, 2008 by radiochantroimoi

Thư phúc đáp của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Namgởi Ông Chủ Tịch UBND TP. Hà Nội V/v yêu cầu thuyên chuyển các Linh Mục Giáo xứ Thái Hà ra khỏi TP. Hà Nội

Lm. Đinh Hữu Thoại, Chánh Văn phòng Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế VN

Bên dưới có đính kèm Văn Thư của ông Nguyễn Thế Thảo gởi HĐGMVN và DCCTVN

thuphucdap

Văn Thư của Ông Nguyễn Thế Thảo

thuntthao1

thuntthao2

9 Thủ Đoạn Xâm Lấn Của Trung Quốc

December 13, 2008 by radiochantroimoi

Thưa quí thính giả và độc giả của Radio Chân Trời Mới,

Chỉ vào một vài thời điểm rất hiếm hoi trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà cầm quyền CSVN thực sự tiết lộ những hành vi và ý định xâm lấn có tính qui mô, kế hoạch và liên tục của Bắc Kinh đối với lãnh thổ Việt Nam. Vào năm 1979, khi các xung đột lớn diễn ra giữa 2 nước, Lãnh đạo Đảng đã cho in 3 cuốn sách với tựa đề:

- Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam – Trung Quốc Trong 30 Năm Qua của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN.

- Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng và Bá Quyền Nước Lớn Của Giới Cầm Quyền Phản Động Bắc Kinh của Ủy Ban Khoa Học Xà Hội Việt Nam.

- Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc của Nhà xuất bản Sự Thật.

Dưới đây là nguyên văn chương 2 của cuốn “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, liệt kê 9 loại thủ đoạn mà Trung Quốc đã sử dụng để xâm chiếm đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.

——————————————–

Chương 2
Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

image001
Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta.

Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”.

Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này.

Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…

3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố…

Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trng Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.

5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.

6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.

7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.

Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.

9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).

Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.

Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:

- Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

- Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.

- Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.

Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:
Năm 1974: 179 vụ.
Năm 1975: 294 vụ.
Năm 1976: 812 vụ.
Năm 1977: 873 vụ.
Năm 1978: 2175 vụ.

Tin khẩn: VN sắp mất thêm Bãi Tục Lãm, Quảng Ninh

December 11, 2008 by radiochantroimoi
Bãi Tục Lãm sát với biên giới Việt-Trung có thể rơi vào tay Trung Quốc

Bãi Tục Lãm sát với biên giới Việt-Trung có thể rơi vào tay Trung Quốc

Bãi Tục Lãm trên hình vệ tinh

Bãi Tục Lãm trên hình vệ tinh

Theo nguồn tin từ giới quân sự cao cấp Việt Nam và được kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì Bắc Kinh đang đòi buộc Việt Nam phải nhượng thêm Bãi Tục Lãm thuộc tỉnh Quảng Ninh cho họ trước khi dứt điểm kế hoạch cắm cột mốc dọc theo biên giới 2 nước. Trung Quốc đòi các lãnh tụ CSVN phải trả lời dứt khoát tại cuộc họp giữa đôi bên ngày 12/12/2008 tại vùng Hữu Nghị – Lạng Sơn.

Tục Lãm là một trong 3 điểm nóng nhất còn bàn cãi giữa đôi bên. Hai vùng còn lại là khu Bản Giốc và khu mộ Cao Bằng. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải nhượng hẳn Tục Lãm và nhượng thêm đất 2 vùng kia.

Cũng theo nguồn tin trên, các thành viên Bộ Chính Trị đảng CSVN đã nghiêng về giải pháp giao nhượng Bãi Tục Lãm bất kể sự phản đối từ phía quân đội.

Radio CTM tường trình từ Hà Nội

Tranh đấu bảo vệ Đất Tổ và đòi hỏi Dân Quyền ngay trong Lãnh Sự Quán CSVN tại Sydney, Úc Châu.

December 10, 2008 by radiochantroimoi

Sáng ngày 10 tháng 12 năm 2008 nhân ngày kỷ niệm Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 60, vào lúc 10 giờ sáng, một số đảng viên Việt Tân và thân hữu đã vào tận bên trong Lãnh Sự Quán CSVN (LSQ) tại Sydney, Úc Châu để phản đối nhà cầm quyền  CSVN đã bán đất dâng biển cho Trung Quốc và khủng bố các Giáo dân Thái Hà vô tội.

Tưởng rằng những người này đến để xin visa, nhân viên sứ quán rất ngạc nhiên khi nghe ông Nguyễn Tấn Anh, đại diện cho phái đoàn tuyên bố tại phòng tiếp tân của LSQ như sau :

”Chúng tôi, thành viên của Đảng Việt Tân, Khối 1706, và Đài Vietnam Sydney Radio, hôm nay đến đây để phản đối mạnh mẽ nhà cầm quyền CSVN tiếp tục chà đạp Nhân quyền, khủng bố các nhà Dân Chủ trong nước… Chúng tôi cực lực lên án phiên Tòa khủng bố 8 Giáo dân Thái Hà hôm 8.12 vừa qua ….”

Bối rối trước sự xuất hiện bất ngờ của lời phản đối bất bạo động nhưng đanh thép vang lên giữa văn phòng, các nhân viên tại đây luống cuống tìm cách mua thời gian:

“Mời các anh đến ghế ngồi, chờ Lãnh đạo chúng tôi xuống tiếp các anh…”

Nhưng khi không thấy “Lãnh đạo” nào dám xuất hiện, ông Lê Minh Phó, một thành viên của phái đoàn nghiêm nghị nói lớn:

”Nhà cầm quyền CSVN đã tham gia Liên Hiệp Quốc, đã ký tên tham gia các Công Ước Quốc Tế bảo vệ Nhân quyền… nhưng nhà cầm quyền các anh đã rất dối trá, lường gạt thế giới, không thi hành bất cứ Công Ước nào cả….”

Phản đối CSVN đàn áp nhân quyền

Phản đối CSVN đàn áp nhân quyền

Sau đó phái đoàn đã rút ra những biểu ngữ phản đối CSVN đàn áp nhân quyền trước sự chứng kiến của nhân viên sứ quán.  Phái đoàn rời trụ sở Lãnh Sự Quán CSVN sau đó, để lại phía sau nhiều nỗi kinh ngạc và không ít những băn khoăn về một sự thật không thể chối cãi, đó là màn đêm vẫn phủ kín các Quyền Con Người trên đất nước Việt Nam.

Phản đối CSVN bóp nghẹt tự do ngôn lu�n - áo T-shirt với hình LM Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa án

Phản đối CSVN bóp nghẹt tự do ngôn luận - áo T-shirt với hình LM Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa án

Radio Chân Trời Mới
tường trình từ  Sydney, Úc Châu