Ba Bài Chiếu Đời Lý – Một Tầm Cao Văn Hóa Mở Đầu Cho Kỷ Nguyên Thăng Long – Đại Việt (phần 2)

Đoàn Thị Thu Vân

Như đã nói trong phần 1 của bài « Ba Bài Chiếu Đời Lý – Một Tầm Cao Văn Hóa Mở Đầu Cho Kỷ Nguyên Thăng Long – Đại Việt », mở đầu cho kỷ nguyên Thăng Long là triều đại nhà Lý với những dấu ấn khó phai về một đường lối trị nước thành công, hiệu quả, đưa đất nước Đại Việt từ chỗ nhược tiểu, vừa thoát vòng nô lệ, loạn ly cát cứ lên vị trí một quốc gia hùng mạnh, có vị thế trong khu vực. Một đường lối trị nước kết hợp từ tinh thần nhân ái của truyền thống văn hóa dân tộc với tinh thần “vô ngã, vị tha” của một Phật giáo Đại Việt giàu tính thực tiễn. Sự kết hợp hoàn mỹ này được thể hiện qua ba bài chiếu của các vua đầu đời Lý, không chỉ nói lên một chủ trương chính trị sáng suốt, phù hợp, mà còn cho thấy nơi con người Đại Việt thời đại, trong đó các vua nhà Lý là đại biểu, một tầm cao văn hóa và sự lớn lao về nhân cách. Trong tiết mục Đặc Ký Truyền Thanh hôm nay, Đài Chân Trời Mới xin gửi đến quý vị bài chiếu thứ 3.

3. Tinh thần nhân ái, khiêm cung, vô ngã vị tha ấy một lần nữa được thể hiện sâu sắc trong bài Chiếu để lại lúc sắp mất (Lâm chung di chiếu) của Lý Nhân Tông, ông vua thứ tư triều Lý.

Lẽ thường, di chiếu của vua hẳn phải đề cập trước tiên đến người nối nghiệp, tiếp đó dặn dò, sắp xếp về công việc và những vị trí trọng yếu trong triều đình, sau cùng mới đến dặn dò về việc tang lễ theo ý muốn của mình. Lý Nhân Tông không làm như thế. Mở đầu bài chiếu, vua đã làm nhẹ đi sự bi thương về cái chết trong tâm lý mọi người (“Trẫm nghe: các giống sinh vật không giống nào không chết. Chết là số lớn của trời đất, là lẽ đương nhiên của muôn loài”(14)). Chính vì sống chết là lẽ thường, là quy luật, nên chuyện tang lễ linh đình làm hao tổn tiền của và tang chế khóc thương đến hao tổn thân thể là những việc đáng phê phán. Điều trọng yếu mà vua quan tâm đến trước tiên là không muốn vì tang lễ của mình mà phiền nhiễu đến dân: “Trẫm đã ít đức, không làm gì cho trăm họ được yên, đến khi chết đi lại bắt dân chúng mặc xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, để làm nặng thêm lỗi lầm của trẫm thì thiên hạ sẽ bảo trẫm là người như thế nào?”(15). Nhà vua bày tỏ tâm sự một cách chân thành: “Trẫm vẫn xót vì tuổi nhỏ phải đảm đương ngôi báu lớn, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi, đến nay đã năm mươi sáu năm. Nhờ anh linh của tổ tông và hoàng thiên tin giúp nên bốn bể yên lành, biên thùy ít loạn, đến khi chết đi được dự đứng sau tiên đế là may lắm rồi, việc gì còn phải khóc thương?”(16). Một vị vua hùng tài dũng lược từng đánh Nam dẹp Bắc giữ vững cõi bờ, lại chăm lo phát triển đất nước, kinh tế, văn hóa, giáo dục đều có những thành tựu ghi vào sử sách mà khiêm nhường đến thế, thật cũng hiếm có.

Chỉ định người nối ngôi, dặn dò tự quân, vua cũng không quên nhắc nhủ người bề tôi tâm phúc của mình là Bá Ngọc phải lo “sửa sang giáo mác để dự phòng những việc bất trắc”(17). Đến lúc sắp ra đi, vẫn không thôi ân cần, chu đáo đến những công việc chung của triều đình, của đất nước, quả là một vị minh quân.

Và sau cùng hết vua lại một lần nữa nhắc lại tâm nguyện của mình: “Việc tang thì sau ba ngày nên bỏ áo trở, thôi khóc than. Chôn cất thì nên theo cách kiệm ước của Hán Văn Đế, không cần xây lăng tẩm riêng, hãy để trẫm được hầu bên cạnh tiên đế”(18). Thật đáng ngạc nhiên với chủ trương mới mẻ và táo bạo này. Xưa con cái để tang cha mẹ ba năm, trong ba năm đó phải mặc áo tang, không được đi thi, không được kết hôn, không được tham dự những cuộc vui chơi, hội hè… Nay vua là người đứng đầu quốc gia, xếp trên cả cha mẹ, lại chỉ yêu cầu tang chế ba ngày. Đấy là gì nếu không phải là tinh thần quên mình vì người khác? Vua không muốn vì mình mà đình trệ công việc quốc gia, ảnh hưởng đến đời sống của dân chúng. Ngày xưa có không ít vị vua khi còn tại thế đã lo xây lăng tẩm nguy nga tráng lệ trước cho mình, bất kể tốn hao bao nhiêu sức người sức của. Lý Nhân Tông đối lập lại hoàn toàn, yêu cầu chôn cất đơn giản, không xây lăng tẩm riêng, để mình bên cạnh vua cha. Lại thêm một cái mới đáng ngạc nhiên và cảm phục. Ý muốn tang lễ giản dị, tiết kiệm của Lý Nhân Tông cũng không khác quyết định từ chối nhận thêm tôn hiệu của Lý Thái Tông. Đó đều là tinh thần đả phá chủ nghĩa hình thức, chuộng hư danh phù phiếm. Các vị đều chú trọng thực chất, quan tâm những gì hữu ích thiết thực cho đời và thấy thẹn khi phải khoác lên mình sự hào nhoáng vô nghĩa. Có thể nói tinh thần khiêm tốn, không ngừng phản tỉnh tự xét mình và biết hổ thẹn là nét nhân cách cao quý xuyên suốt nơi những con người nắm giữ trọng trách quốc gia từ các vua đời Lý đến các vua quan đời Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Phạm Ngũ Lão, Trần Nguyên Đán… Và chúng ta không khỏi tự hỏi những vua chúa đời sau như Lê Tương Dực, Trịnh Sâm, Khải Định… với những cung điện, lâu đài, lăng tẩm cực kỳ lộng lẫy, với đời sống hưởng thụ tột cùng xa hoa không biết có phút giây nào đọc lại những trang sử cũ để cảm thấy giật mình hổ thẹn với tiền nhân?

Kỷ nguyên Thăng Long – Đại Việt đã bắt đầu với những vị vua anh minh như thế. Nhất quán một tinh thần nhân ái và vô ngã vị tha. Ở địa vị tối cao, các vị đã dùng cái tâm “ưng vô sở trụ”, phá “ngã chấp” để lắng nghe lòng dân, cùng dân chia sẻ, làm việc công minh, không tham lam, tư lợi. Chính vì thế mà muôn dân mến phục, trên dưới một lòng, tạo nên nội lực hùng mạnh cho quốc gia, trong thì phát triển mọi mặt, ngoài thì ngoại bang kiêng nể. Triều Lý với đường lối chính trị như trên, đã khiến vận nước trở nên bển bỉ vững chãi như dây mây quấn quýt và trời Nam an hưởng thái bình, đúng như niềm mong ước và cũng là lời tiên tri của vị quốc sư đời Lê trước đó. Nếu Pháp Thuận là người đề xướng đường lối chính trị “vô vi” – mà cốt lõi là biết quên mình, thuận theo lòng dân – thì các vua triều Lý chính là những người đã ứng dụng nó vào thực tiễn hết sức thành công, đem lại một vận hội mới, một thời đại huy hoàng cho đất nước. Đấy phải chăng cũng là cái “đức” mà Trương Hán Siêu đời Trần đã nói tới khi đứng trước dòng sông Bạch Đằng lịch sử suy nghiệm về lẽ hưng phế xưa nay để rút ra một chân lý về sự trường tồn của đất nước: “Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”(19).

Và sau hết, nếu nói tinh thần dân tộc mạnh mẽ và đức nhân ái truyền thống đã giúp cho các vị vua của buổi đầu kỷ nguyên tự chủ đạt thành sự nghiệp lớn lao, lưu danh muôn thuở thì cũng không thể không kể đến ảnh hưởng của triết học Phật giáo đã thấm nhuần một cách tự nhiên vào tâm hồn của những con người thời đại ấy, như hơi thở hằng ngày. Có thể nói cái bản lĩnh tinh thần mạnh mẽ và linh hoạt, biết “tùy ngộ nhi an”, tình thương người đến quên mình, niềm lạc quan yêu cuộc sống, xem nhẹ chuyện mất còn… trong nhân cách những con người ấy thật khó tách bạch đâu là đạo đức truyền thống và đâu là triết lý nhân sinh của đạo Phật. Nói khác đi, Phật giáo bén rễ nơi mảnh đất phương Nam đã hòa quyện tuyệt vời với văn hóa bản địa để trở thành một Phật giáo Đại Việt năng động, đầy sức sống và gần gũi cuộc đời. Đó cũng là dấu ấn khó phai mờ trong trang sử huy hoàng của một thời hào khí Thăng Long./.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: