Ba Bài Chiếu Đời Lý – Một Tầm Cao Văn Hóa Mở Đầu Cho Kỷ Nguyên Thăng Long – Đại Việt

Đoàn Thị Thu Vân

Mở đầu cho kỷ nguyên Thăng Long là triều đại nhà Lý với những dấu ấn khó phai về một đường lối trị nước thành công, hiệu quả, đưa đất nước Đại Việt từ chỗ nhược tiểu, vừa thoát vòng nô lệ, loạn ly cát cứ lên vị trí một quốc gia hùng mạnh, có vị thế trong khu vực. Một đường lối trị nước kết hợp từ tinh thần nhân ái của truyền thống văn hóa dân tộc với tinh thần “vô ngã, vị tha” của một Phật giáo Đại Việt giàu tính thực tiễn. Sự kết hợp hoàn mỹ này được thể hiện qua ba bài chiếu của các vua đầu đời Lý, không chỉ nói lên một chủ trương chính trị sáng suốt, phù hợp, mà còn cho thấy nơi con người Đại Việt thời đại, trong đó các vua nhà Lý là đại biểu, một tầm cao văn hóa và sự lớn lao về nhân cách.

1. Bài chiếu xuất hiện đầu tiên trong văn học dân tộc là Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Thái Tổ. Về tính chất đĩnh đạc, trang trọng, thể hiện một chủ trương lớn, một tầm nhìn xa rộng của người lãnh đạo quốc gia cũng như tâm huyết và khát vọng xây dựng một đất nước giàu mạnh, tầm cỡ, phát triển lâu dài trong bài chiếu, đã có không ít nhà nghiên cứu phân tích, bình luận. Đây chỉ đề cập đến hai khía cạnh đáng chú ý.

- Trước hết là một tinh thần nhạy bén và linh hoạt trong trị nước, “nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”(1). Nhìn ra những chỗ bất lợi của kinh đô cũ, nhà vua đã kịp thời thay đổi và quyết tâm thay đổi.

- Thứ hai, chủ trương của triều đình phải xuất phát từ lợi ích của đất nước và nhân dân. Việc chọn Đại La làm kinh đô đã được nhà vua căn cứ từ các cơ sở:

+ Địa thế phù hợp cho cả nhu cầu phòng thủ và phát triển (“Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; Lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”(2)).

+ Thuận lợi cho dân sinh sống, làm ăn, và thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp (“Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi”(3)).

+ Ở vị trí trọng yếu, là nơi hội tụ của các nẻo đường đất nước, đầu mối giao thông và giao lưu kinh tế, văn hóa (“Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước”(4)).

+ Xứng đáng là bộ mặt của một quốc gia độc lập, tự cường, có uy thế trong khu vực (“Cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”(5)).

Từng ý kiến của tác giả bài chiếu đều rất xác đáng, cho thấy cái nhìn sắc sảo của người lãnh đạo và trên hết, sự toàn tâm cho đất nước và nhân dân. Có thể thấy ở đây, vị vua đầu triều Lý đã thiện dụng chữ “tùy” linh hoạt của nhà Phật mà cũng là của truyền thống văn hóa Việt. Một đất nước nhỏ bé, liên tục phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt và họa ngoại xâm để tồn tại, nếu không biết đến chữ “tùy” linh hoạt và uyển chuyển, cương nhu đúng lúc thì sao có thể sống còn và phát triển? Quan niệm minh triết này trước đó đã được Pháp Thuận biểu hiện qua hình ảnh “vận nước như dây mây quấn quýt”(6). Quốc sư triều Lê không chỉ nói đến sự đoàn kết gắn bó mà còn nói đến tính mềm dẻo, năng động. Chính vì dây mây không phải là cổ thụ cứng nhắc và cố định ở một nơi mà buông mình tự do, thích hợp với mọi địa hình, có thể ở nơi rộng rãi bằng phẳng, có thể ở nơi cheo leo nhỏ hẹp nên chẳng dễ nắm bắt, chẳng dễ chặt đứt. Lý Thái Tổ đã khéo dùng tâm “ưng vô sở trụ”, không bám sẵn vào đâu, không thiên kiến để thực hiện tinh thần “tùy duyên” của nhà Phật, cũng là “tùy cơ ứng biến” mà ông cha ta vốn thiện dụng. Không cố chấp, tùy vào hoàn cảnh của mỗi thời, tùy vào nhu cầu và nguyện vọng của dân để có chủ trương phù hợp, rõ ràng phải có tinh thần “vong ngã”, quên đi cái tôi, cái riêng của cá nhân mình mới có thể đạt được. Đây không chỉ là sự sáng suốt mà còn là cái đức của người lãnh đạo quốc gia. Bởi điều này không phải dễ thực hiện đối với người trong tay đang nắm quyền uy tối thượng như nhà vua. Chính vì xem như không có bản thân mình nên nhà vua mới có tất cả: đất nước phát triển, cơ nghiệp vững bền, lòng dân mến phục, tiếng thơm ngàn đời.

2. Ở Lý Thái Tông, ông vua thứ hai của triều Lý, có một bài chiếu ngắn gọn nhưng rất đáng quan tâm: Chiếu xá thuế (Xá thuế chiếu). Bài chiếu nhỏ về quy mô, chỉ giản dị 4 câu, nhưng không nhỏ về ý nghĩa. Có hai điểm đặc biệt khiến người đọc chú ý:

- Lý do xá thuế không phải vì thiên tai, mất mùa khiến dân thiếu thốn, đói khổ mà ngược lại “mùa đông năm nay được mùa lớn”(7). Được mùa thì dân chúng sung túc, dư dã, giả sử có tăng thuế để bổ sung cho ngân khố quốc gia vừa bị vơi đi do “đánh dẹp phương xa” cũng không phải là không hợp lý và người dân vẫn có thể đóng góp được. Thế nhưng nhà vua đã không tăng thuế mà còn giảm thuế phân nửa. Một điều nghịch lý đáng suy ngẫm! Phải chăng không chỉ lo giúp dân thoát khỏi đói nghèo mà lòng vua còn muốn cho dân có được tích lũy để thịnh vượng lên. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Lời bộc bạch của vua thật cảm động: “Nếu trăm họ đều no đủ thì trẫm còn lo gì thiếu thốn?”(8) Ở đây không chỉ có tình yêu thương nồng hậu mà còn cả niềm tin trao gởi. Vận mệnh đất nước, vận mệnh của vương triều, Lý Thái Tông đã trân trọng đặt vào tay dân. Nhà vua tin rằng khi đất nước hữu sự thì của cải mà dân có cũng là của quốc gia có. Dân và nước – mà vua là đại diện – là một. Sức mạnh của nước ở nơi dân. Khi đất nước cần dân sẽ dốc lòng lo, chẳng tiếc riêng tư của mình. Có tin tưởng như vậy, nhà vua mới có được đường lối chính trị cởi mở, thực hành đúng như lời quốc sư Pháp Thuận từng khuyên vua Lê Đại Hành – “Vô vi cư điện các”(9) – tức dùng chính trị khoan giản (nới lỏng và giản dị, không gây phiền nhiễu cho dân), thuận theo lòng dân, để đạt đến thái bình thịnh trị dài lâu cho đất nước (“Xứ xứ tức đao binh”(10)).

Cách nói và vận dụng nhiều vẻ khác nhau, tùy theo trường hợp khác nhau nhưng tư tưởng chỉ là một: lấy dân làm gốc, dựa vào dân và phát huy sức mạnh của dân. Đó là chìa khóa của mọi thành công mà các bậc tiền nhân đã biết nắm giữ. Vua Lý Thái Tông nếu không có lòng nhân ái, mà nói nôm na giản dị là tình thương, một đạo lý truyền thống ông cha ta thường xuyên tâm niệm (“Thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng”…) kết hợp với tinh thần “vô ngã vị tha” – quên đi bản thân mình để hướng đến người khác – sao có thể có những lời chiếu cao cả và xúc động đến thế?

- Bài chiếu công bố “xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế năm nay để an ủi nỗi khó nhọc lội suối trèo đèo”(11). Một lần nữa thấy được thái độ trọng dân của nhà vua. Thật công bằng. Người dân tạm gác việc gia đình, việc mưu sinh để theo vua vất vả gian lao trong chiến chinh, công sức ấy cần phải được ghi nhận và đền bù. Dân không phải là tôi tớ hay công cụ phục vụ cho lợi ích của vương triều. Mối quan hệ giữa dân và vua không chỉ có một chiều là cung ứng, cống hiến mà còn có chiều ngược lại: được đãi ngộ và cùng hưởng thụ thành quả. Vua biết đến công của dân như thế, lẽ nào dân lại tiếc thân mình không đáp lại mệnh lệnh của vua khi đất nước cần? Lẽ công bằng này không phải dễ thực hiện nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình, nhất là đối với người đang là kẻ mạnh, đang nắm quyền lực tối thượng trong tay. Cái lớn lao trong nhân cách của vị vua nhà Lý là ở đó. Từng nhớ có lần quần thần xin dâng thêm tôn hiệu để tỏ ý ngợi ca, vua đã thẳng thắn từ chối, cho rằng mình “chưa xứng đáng để được tôn vinh những danh hiệu tốt đẹp”(12) và chân thành bộc bạch: “Trẫm đem tấm thân cô đơn gửi nơi vị trí ở trên sĩ dân, dậy sớm thức khuya, lo lắng như lội vực sâu, chưa biết lấy đạo gì để thấu trời đất, lấy đức gì để kịp Nghiêu Thuấn”(13). Chính sự khiêm tốn này càng tôn lên tầm cao của nhà vua

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: