Nhờ Mỹ để cứu đảng? (phần 2)

Trung Điền

Lựa chọn của lãnh đạo CSVN đã rõ ràng: hải quân Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Duơng được lệnh đối đầu với các tàu Ngư Chính của Trung Quốc trong khi hải quân Cộng sản Việt Nam thì bị cấm chống trả. Hàng trăm ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc, nhưng phía Hà Nội lại lên tiếng quá yếu. Thậm chí hàng chục chiếc tàu của ngư dân bị đâm chìm một cách bí mật trong khu vực Hoàng Sa, Trường Sa nhưng Hà Nội đã không dám tố cáo đó là tàu Trung Quốc mà gọi đó là những tàu lạ. Thái độ yếu hèn của lãnh đạo Hà Nội đối với Bắc Kinh đã tạo ra làn sóng bất mãn dữ dội – từ ngấm ngầm đến công khai – trong nội bộ đảng cũng như bên ngoài quần chúng.

Tháng 6 vừa qua, 38 sĩ quan và tướng về hưu đã viết thư gửi cho Bộ chính trị và ban bí thư đề cập về khả năng lãnh đạo yếu kém và thái độ yếu hèn đối với Trung Quốc của bốn người gồm Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa; lá thư đã được tán phát rộng rãi trong nội bộ đảng. Trước đó, từ cuối tháng 4, nhiều anh chị em thanh niên sinh viên đã dấy lên phong trào kẻ khẩu hiệu gồm 6 chữ HS.TS.VN (Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam) tại nhiều thành phố trên cả nước và hiện nay còn đang tiếp diễn ở nhiều nơi. Đó là chưa nói đến hàng ngàn bài viết chống các hành động bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông đã được lưu truyền một cách rộng rãi trên mạng Internet. Những nỗ lực nói trên đang tạo một áp lực rất lớn lên lãnh đạo Hà Nội với một xu hướng chống Trung Quốc xuất hiện ngay chính trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam làm ngơ những chống đối nói trên, có thể sẽ dẫn đến những xung đột lớn trong đại hội đảng lần thứ XI sẽ diễn ra vào tháng 1 năm 2011, khi mà các phe quyền lực dùng chiêu bài chống Trung Quốc để hất cẳng lẫn nhau. Có lẽ không muốn đại hội đảng tái diễn những xung đột như đại hội IX vào năm 2001, chỉ trích nhau là “tay sai Trung Quốc” giữa Lê Khả Phiêu và Đỗ Mười – Lê Đức Anh, và nhất là lần này có thể sẽ nguy hiểm hơn khi vấn đề Biển Đông đang bùng nổ lớn, nên Cộng sản Việt Nam đã phải chọn thế gần Mỹ để giải quyết hai nhu cầu:

Một là qua những hợp tác với Hoa Kỳ về vấn đề Biển Đông sẽ phần nào làm an lòng những cán bộ đảng viên và một thành phần trong quân đội chống Trung Quốc tin rằng có Hoa Kỳ hỗ trợ nên không còn gay gắt với thành phần lãnh đạo hiện nay. Tức là núp sau cái dù “hợp tác trên Biển Đông” với Hoa Kỳ để giữ yên nội bộ, giảm bớt sóng gió trong việc tổ chức đại hội XI.

Hai là dùng sự hợp tác với Hoa Kỳ để qua đó làm giảm bớt những áp lực của Bắc Kinh lên trên hàng ngũ lãnh đạo vốn bị lệ thuộc quá nhiều từ năm 1990 khi hai phía nối lại quan hệ. Tức là Cộng sản Việt Nam muốn tạo hình ảnh “đu giây” giữa hai siêu cường chứ không nghiêng hẳn về phía nào như quá khứ.

Sở dĩ lãnh đạo Hà Nội phải chọn hướng đi nói trên vì sự tồn tại của đảng. Họ biết là nếu lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc thì có ngày sẽ bị bóp chết. Đây là một thực tế. Tuy nhiên, bản chất của Hà Nội là luôn luôn phải dựa vào một quan thầy. Họ đã chọn con đường dựa vào Trung Quốc từ năm 1990 sau khi Liên Xô tan rã. Họ quá quen với chỗ dựa này tới độ mù quáng và ươn hèn, đồng thời cảm thấy yên tâm hơn với một kẻ thù cùng bản chất độc tài và phi nhân bản. Họ vẫn tiếp tục coi Bắc Kinh là đối tác quan trọng, còn việc tiếp cận Hoa Kỳ hiện nay chỉ là chiến thuật giai đoạn, nhằm giải quyết sự phân hóa nội bộ từ đây đến đại hội đảng.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: