Sông Gọi Núi Gào

Đặng Tiến Dũng

Không ai trong chúng ta có quyền tự lựa chọn cho mình điểm bắt đầu của chính cuộc đời của chúng ta. Tôi cũng không nằm ngoài định luật tự nhiên đó.

Một ngày gần giữa tháng 11, cách đây gần 55 năm, tôi cất tiếng khóc chào đời như bao nhiêu đứa trẻ Việt Nam khác trên Quê Hương mình. Nơi tôi sinh ra có vị mặn của biển, có những cơn gió dịu mát những trưa hè. Ký ức những năm tháng đầu đời mơ hồ như ranh giới giữa trời và biển vì không lâu sau đó gia đình tôi di chuyển lên Sài Gòn lập nghiệp. Tôi lớn lên giữa thành phố me xanh, với tuổi thơ bình yên như bao bạn bè cùng trang lứa. Suốt những năm tiểu học, dù đôi lần cay mắt vì những trái khói cay trong các lần nội biến tại thủ đô miền Nam, nhưng trong tôi chỉ là những kỷ niệm bắn bi, đá cầu, đánh vụ, đá dế với những anh bạn cùng xóm.

Gia đình tôi từ Sài Gòn lại dọn về Cần Thơ, quê Ngoại, khi tôi vừa xong bậc tiểu học. Ở Cần Thơ được 3 năm, gia đình tôi di chuyển về Vũng Tàu, nơi tôi được sinh ra.

Thời gian ở Cần Thơ không lâu, mặc dù chứng kiến những thảm cảnh của chiến tranh, và có lần tôi xuýt chết vì đạn pháo kích, nhưng kỷ niệm đáng nhớ lại là gương mặt, ánh mắt của cô bạn học cùng lớp. Trong suốt thời gian bậc trung học và những năm đại học, chiến tranh với những cảnh tang thương xảy ra hằng ngày đã không gây ấn tượng trong tôi lúc bấy giờ vì khi ấy có những điều đáng nhớ khác của tuổi học trò. Thật ra những điều ấy chỉ là những chuyện như nôn nao đến giờ học để được ngắm cô bạn học và chỉ nói vài câu gì đó, của những lúc lặng bước theo chân của một người con gái, của những lúc hẹn hò với người mình yêu thương …

Một ngày tháng Hai năm 1975, bạn tôi hỏi :

“Mày đi Mỹ không, chỗ anh tao làm sẵn sàng đưa mình qua đó ăn học với điều kiện cha mẹ ký giấy đồng ý?”

“Không, tao không đi. Qua đó biết bao giờ trở lại !”

30 tháng Tư năm 1975: Chiến tranh chấm dứt.

Những ngày tháng sau đó với bao trái ngang xung quanh mình, bao sợ hãi gieo rắc bởi những người chiến thắng đã làm cho đời sống vốn tự do, yên bình của miền Nam trở nên vô cùng khốn khổ, tù túng. Tôi bắt đầu có những suy nghĩ chín chắn hơn. Những đêm khuya thanh vắng, tôi đã nhiều lần thầm khóc khi nghĩ đến những hy sinh của người khác trong cuộc chiến để bảo vệ Tự Do, sự yên bình cho miền Nam thân yêu. Còn tôi, tôi chỉ biết rong chơi bên người mình yêu và chỉ biết sự “bình yên” bên lớp học.

4 năm dưới “thiên đường cộng sản”, nhờ lòng quý mến và sự giúp đỡ của người thân bên vợ, tôi cùng vợ và con gái đầu lòng trốn khỏi chế độ phi nhân này vào cuối năm 1979 để tìm Tự Do.

Trên chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé, tôi lặng nhìn ngọn hải đăng trên núi Vũng Tàu mỗi ngày mỗi chìm dần dưới làn sóng biển, mắt cay cay vì nỗi nhớ nhà dâng lên. “Nhà” của tôi là những người thân yêu khi ấy. Nhưng những năm đến định cư ở Na Uy, “nhà”, ngoài là những người thân yêu, còn là những tàng cây xanh bên mái trường yêu dấu, là những con đường mà tôi đi qua, là dòng sông êm đềm miền Tây năm nào, là biển Đông ấm áp tình người … “Nhà” là những kỷ niệm không quên! Tháng giêng năm 1980 gia đình chúng tôi đến Bergen, Na Uy sau khoảng 3 tháng chờ tại Hồng Kông. “Người tỵ nạn bằng thuyền – Båtflyktning” gắn liền với tôi từ đó đến nay.

Thời gian trôi đi, những căng thẳng trên đường tỵ nạn dần chìm vào quên lãng, những cơn ác mộng về chuyến vượt biển cũng thưa dần,…cô con gái đầu 3 tuổi năm nào cũng đã trưởng thành và cho vợ chồng tôi một cháu gái kháu khỉnh. Những tâm tình sau đây tôi muốn nhắn gửi cháu ngày khôn lớn.

“Ông Ngoại ơi, vì sao ông Ngoại rời bỏ Việt Nam?”

“Cháu yêu thương của Ngoại, trong lịch sử của đất nước Việt Nam, chưa bao giờ có làn sóng người bỏ nước ra đi như lúc những người Cộng Sản Việt Nam cai trị. Cháu có biết, trên chiếc thuyền bé nhỏ lênh đênh trên biển cả bao la, Ngoại không biết mình sẽ trôi giạt về phương nào. Người bỏ nước ra đi không có chọn lựa nào khác: Vùi thây dưới đáy biển hoặc tìm được Tự Do!”.

“Những ngày lênh đênh trên biển, biết bao tàu qua lại, nhưng không ai động lòng đến thân phận của những con người bất hạnh này. Niềm hy vọng mỗi lúc mỗi vơi đi. Một ngày, khi chiều xuống, niềm hy vọng tiêu tan, Ngoại cầu nguyện: “Nếu phải đánh đổi, Ngoại xin nhận phần chết để mẹ của con và bà Ngoại được bình yên!” Nhưng không bao lâu, từ xa, thật xa, một ngọn khói thật nhỏ ở cuối chân trời, nhưng to dần, to dần. Và sau cùng, chiếc tàu thật to dừng lại. Có lời nào diễn tả được niềm xúc động vô biên của Ngoại khi ấy! Sau này, nhân tổ chức kỷ niệm 20 năm ngày đến Na Uy, ông Thuyền Trưởng kể :

‘Chiều ấy, đúng giờ cơm, tự dưng ông thấy không khỏe và muốn lên boong tàu để hít thở không khí trong lành. Như một thói quen nghề nghiệp, ông dùng ống dòm để quan sát. Một vật thật bé như hạt cát bồng bềnh trên mặt biển. Ông không rõ là vật gì, nhưng nghĩ đến một người nào lâm nạn đang trôi giạt trên biển. Ông quyết định xoay hướng tàu.’

Ông và thủy thủ đoàn đã cứu sống đoàn người tỵ nạn vì tối hôm đó là cơn bão rất lớn thổi qua.”

“Ông Ngoại có mong Việt Nam được cuộc sống giống như Na Uy không?”

“Cháu ơi, trong tim của Ngoại bao giờ cũng là hình ảnh Quê Hương Việt Nam thân yêu. Đã 30 năm qua chưa có dịp về thăm Quê Nhà, chỉ cần một bài ca mà Ngoại ưa thích thời đi học, đã làm Ngoại rơi nước mắt vì gợi cho Ngoại nỗi nhớ nhà khôn tả.”

“Không riêng gì Ngoại, hầu hết người Việt Nam, dù sống ở đâu, đều mong ước xây dựng một cuộc sống thăng tiến xứng đáng cho con người Việt Nam; xây dựng một đất nước phát triển xứng đáng với lịch sử dân tộc và biết bao hy sinh của hàng trăm thế hệ Việt Nam. Những mong ước này chỉ có thể thực hiện khi chế độ độc tài do đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên đất nước Việt Nam không còn tồn tại.”

“Nếu có dịp tìm đọc lịch sử Quê Hương Việt Nam, cháu có thể hiểu được Việt Nam tồn tại đến ngày hôm nay dù trải qua rất nhiều cảnh ngoại xâm, nội biến nhờ vào lòng yêu nước của người dân. Từ người nông dân tay lấm bùn đất, đến người tài cao học rộng, họ đã đáp lời sông núi để viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.”

“Việt Nam hôm nay, tuy chiến tranh đã chấm dứt hơn 35 năm, nhưng cảnh đói nghèo, lạc hậu vẫn đeo mãi một dân tộc vốn có truyền thống tự trọng, cầu tiến, và siêng năng. Những người lãnh đạo đất nước Việt Nam hôm nay rất tàn ác với người dân bằng chính sách cai trị khủng bố, nhà tù, nhưng họ lại hèn hạ cúi đầu dâng đất, hiến biển cho ngoại bang khiến Sông Núi gọi gào:

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,

Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,

Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.

* trích lời bài nhạc “Đáp Lời Sông Núi” của Trúc Hồ

“Tiếng gọi của Sông, tiếng gào của Núi đang thôi thúc lòng người ! Ngoại đã một lần dửng dưng, ham vui thời mới lớn mà quên đi lời đáp trả của mình với Núi Sông. Cháu biết không, chính vì vậy mà bao năm nơi xứ người, Ngoại cố dành hết tâm trí, thời gian ngoài giờ làm việc để cùng góp một bàn tay cho con đường chông gai của những người mong nhìn Tổ Quốc Việt Nam hạnh phúc trong Tự Do. Con đường ấy sẽ ngắn lại nếu cháu của Ngoại biết lắng nghe tiếng vọng của Núi Sông và bước tiếp những bước chân của Ngoại nếu một mai Ngoại không còn …”

Mùa Xuân Bergen 2010

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: