35 năm (1975 – 2010) nhìn lại (phần 2)

Lý Thái Hùng

Kính thưa quý thính giả, phần 1 bài bình luận nhan đề “35 năm nhìn lại” của tác giả Lý Thái Hùng được gừi đến quý vị trong mục bình luận vừa qua đã đề cập đến 2 trong một số những điểm đáng chú ý của Việt Nam trong 35 năm qua. Thứ nhất: những cách ứng xử về ngày 30 tháng 4 của giới lãnh đạo Hà Nội trong 35 năm qua chỉ khoét sâu thêm vết thương nhức nhối của dân tộc; bên cạnh đó họ nhân danh điều phi nghĩa để áp đặt sự lãnh đạo một cách ngạo mạn và độc tài trên cả nước, đưa đền hệ quả: Đất nước tụt hậu, dân khí suy đồi một cách liên tục. Thứ hai: Những giai đoạn khác nhau trong 35 năm qua, cộng sản Việt Nam luôn luôn phải đối diện với nhữngnghịch lý do chính họ gây ra. Giai đoạn 10 năm vừa qua là giai đoạn mở cửa làm ăn với Mỹ và các nước tây phương, nhưng đồng thời họ cũng đưa đất nước vào quỹ đạo của Trung Cộng.

Sau đây, mời quý vị nghe phần hai bài bình luận của tác giả Lý Thái Hùng

******

Một đảng cầm quyền mà liên tục phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác trong nhiều năm dài nhưng lại tiếp tục nắm giữ quyền lực trong tay thì sẽ dẫn đến hai hậu quả: 1/ Lãnh đạo và cán bộ liên hệ tạo thành những băng nhóm theo cơ chế của đảng và nhà nước như giao thông, công an, kinh tế, ngoại thương, viễn thông… để chi phối các sinh hoạt xã hội theo nhu cầu của họ chứ không phải nhu cầu của người dân hay của quốc gia. 2/ Tài nguyên quốc gia chạy vào túi riêng của một thiểu số có quyền, có chức trong khi đại đa số nhân dân sống trong nghèo khó. Những kẻ có quyền và có tiền trong tay không bao giờ dám thay đổi thật sự vì họ không chỉ sợ mất những quyền lợi đang thụ hưởng mà còn sợ sự thay đổi có thể dẫn đến những nguy hiểm cho chính họ khi xảy ra ngoài tầm kiểm soát. Đó là lý do tại sao lãnh đạo Hà Nội nói đến đổi mới, cải cách, dân chủ hóa nhưng luôn luôn phải đi theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” vì đó là lằn mức sau cùng mà họ có thể lùi trong an toàn nếu có những áp lực thay đổi. Chúng ta có thể khẳng định rằng thành phần lãnh đạo tại Hà Nội không quan tâm về tương lai của dân tộc mà chỉ quan tâm về việc họ có thể xử dụng câu thần chú “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong bao lâu nữa mà thôi.

Cứ mỗi 30 tháng 4, người ta hay nghe giới lãnh đạo Hà Nội nói nhiều đến hòa giải dân tộc, quên hận thù hướng về tương lai, nhưng rõ ràng đó toàn là giả dối. Họ không dám đặt vấn đề hòa giải dân tộc với những người ở trong nước có quan điểm chống lại sự độc tài của đảng Cộng sản, như Hoà Thượng Thích Quang Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế,… mà lại chạy ra tận hải ngoại nói chuyện hòa giải với những người vốn mang đầu óc thỏa hiệp như Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Đặng Long Cơ, Nguyễn Hữu Liêm… Họ nói quên hận thù hướng về tương lai mà hàng năm lại dành hàng triệu Mỹ kim tổ chức rùm beng những buổi lễ “mừng giải phóng” thành phố này, thành phố kia trong tháng tư, trong khi lãnh đạo đã không một lời xin lỗi về những thảm kịch đã gây ra cho dân tộc như Kinh tế mới, Tù cải tạo, đánh tư sản mại bản sau năm 1975.

Muốn phát triển và vươn lên với thế giới bên ngoài, mỗi đất nước phải có một nền tảng chung để tạo sự đồng thuận trong lòng dân tộc. Không có sự đồng thuận này, những cải cách về kinh tế, những thay đổi về chính trị, thậm chí những thay thế về lãnh đạo cũng chỉ là những thay đổi ngoài da. Nền tảng chung của Việt Nam không thể nào là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cái này chỉ có thể là định hướng của một đảng, một nhóm người nhưng không thể áp đặt lên toàn thể xã hội. Nền tảng chung mà dân tộc Việt Nam theo đuổi không chỉ mới có trong 35 năm qua mà đã khởi đi từ hơn 150 năm kể từ khi người Pháp bắn phát súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng năm 1858. Đó là một Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ và Phú Cường thật sự bằng chính sự chọn lựa của người dân. Không nhìn thấy khát vọng này của dân tộc mà cố tình áp đặt lên người dân những chủ thuyết ngoại lai và dùng bạo lực trấn áp những ai không đồng ý kiến thì chỉ là những kẻ cản đường tiến tới tương lai của dân tộc mà thôi.

Mỗi người có những cảm nhận khác nhau khi đối diện ngày 30 tháng 4. Nhưng có một cảm nhận chung là không một ai hài lòng về hiện tình đất nước ngày nay kể từ 30 tháng 4 năm 1975. Tại sao những người Việt tỵ nạn chỉ mất 20 năm từ hai bàn tay trắng đã dựng nên cơ nghiệp rất thành công ở xứ người, trong khi đất nước Việt Nam vẫn lẹt đẹt đi sau nhân loại với 65% dân số còn ở mức sống nghèo nàn? Hà Nội đã đổ lỗi cho hậu quả tàn phá của những năm tháng chiến tranh, rồi lại đổ lỗi cho sự chống phá của các thế lực thù địch. Hãy nhìn Nhật Bản cũng bị chiến tranh tàn phá và phải xây dựng lại từ một đất nước chiến bại vào tháng 8 năm 1945. Non 30 năm sau, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia công nghiệp, tổ chức Hội chợ Quốc Tế lần đầu tiên tại Á Châu vào năm 1970 trong sự thán phục của nhân loại vào lúc đó.

Lãnh đạo Hà Nội đã không những không biết gỡ bỏ những rào cản của quá khứ để nhìn về tương lai, mà chính họ còn là cản trở để tiến tới tương lai của toàn dân tộc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: