35 năm (1975 – 2010) nhìn lại (phần 1)

Lý Thái Hùng

Năm nay đánh dấu 35 năm của biến cố 30 tháng 4. Biến cố này được gọi nhiều tên khác nhau tùy theo vị trí của từng người liên hệ, nhưng chắc chắn một điều: đây không phải là ngày vui. Người Cộng sản thì gọi đây là ngày giải phóng. Người Việt Nam thì gọi đây là ngày Quốc hận. Mặc dù đã có rất nhiều tài liệu, sách báo viết về biến cố 30 tháng 4 dưới nhiều góc nhìn khác nhau; nhưng một biến cố đã khiến cho hàng triệu người phải rời bỏ đất nước thân yêu của mình ra đi tìm tự do, không chỉ ngay sau khi cuộc chiến chấm dứt mà còn kéo dài cả hơn 10 năm sau đó, thì không thể nào gọi đó là ngày giải phóng. Tiếp tục sống trong não trạng của cái gọi là “ngày giải phóng” hay “ngày chiến thắng” như đảng Cộng sản Việt Nam đã cố huy động cả nước tổ chức những buổi lễ nhạt nhẽo và vô nghĩa vào tháng 4 hàng năm, chỉ cho người ta thấy là giới lãnh đạo Hà Nội không có khả năng nhìn về tương lai. Tại sao?

Thứ nhất, nhìn những cách ứng xử về ngày 30 tháng 4 của giới lãnh đạo Hà Nội trong 35 năm qua, họ cứ loay hoay biện minh về công lao “đánh Mỹ cứu nước” để tiếp tục nắm giữ sự độc quyền cai trị và sản xuất ra không biết bao nhiêu là tài liệu, bài vở để ca ngợi về cuộc chiến trước năm 1975, hầu tiếp tục đánh lừa những thế hệ Việt Nam mới. Thậm chí trong tháng 4 năm nay họ đã cho in 12 đầu sách để nói về cuộc chiến “thần thánh” của đảng Cộng sản Việt Nam, kể cả việc cho in lại bài nói chuyện và những tin tức gọi là tối mật của chính quyền Miền Nam ở vào giây phút hấp hối. Một chính quyền biết nhìn về tương lai là phải biết động viên dân tộc vào những gì cần phải hãnh diện và những thành tựu mà thế giới đồng tình chia xẻ. Biến cố 30 tháng 4 không phải là biến cố có “triệu người vui và triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt nói ở cuối đời, mà đúng ra chỉ có một thiểu số vui mừng, trong khi đại khối dân tộc thất vọng và nhục nhã vì thảm kịch này.

Không chỉ có những người dân miền Nam gọi biến cố 30 tháng 4 là ngày quốc hận khi Sài Gòn sụp đổ, mà những năm sau đó ở miền Bắc và kéo dài cho đến ngày hôm nay những người đã từng đi theo đảng Cộng sản “giải phóng” miền Nam như ông Bùi Tín, ông Vũ Cao Quận và nhiều người khác đã lần lượt nhìn ra đó là cuộc chiến phi nghĩa. Nhân danh điều phi nghĩa để áp đặt sự lãnh đạo một cách ngạo mạn và độc tài trên cả nước đã cho chúng ta thấy ngay hệ quả: Đất nước tụt hậu, dân khí suy đồi một cách liên tục trong 35 năm vừa qua. Trong Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương đảng khóa X từ ngày 22 đến 28 tháng 3, đảng Cộng sản Việt Nam đã nói rằng họ sẽ “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.” Câu hỏi đặt ra là trong 20 năm qua, đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cửa, đổi mới nền kinh tế dựa trên; 1/ sức lao động rẻ; 2 / tài nguyên thiên nhiên; 3/ đầu tư ngoại quốc; 4/ buôn bán địa ốc; 5/ cho thuê rừng, thì dựa vào đâu để có thể đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại khoảng 10 năm nữa, trong khi nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam đã bị phá sản, ngành công nghiệp chế biến bị hàng hóa Trung Quốc đè bẹp không có tương lai? Chúng ta có thể khẳng định rằng chủ trương nói trên của đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ là bánh vẽ trong cái nhìn không tưởng về tương lai mà thôi.

Thứ hai, nhìn lại chặng đường 35 năm, đảng Cộng sản Việt Nam đã đối diện với những nghịch lý do chính họ gây ra qua bốn thời điểm đáng chú ý: 1/ Từ năm 1975 đến năm 1985 là giai đoạn mà họ vô cùng ngạo mạn và hiếu chiến nhất, đẩy đất nước rơi vào tình trạng thiếu đói và bị thế giới cô lập do hậu quả của cuộc chiến xâm lược Kampuchia và gây hấn với Trung Quốc. 2/ Từ năm 1986 đến năm 1990 là giai đoạn mà họ gặp khủng hoảng nặng nề vì bỗng chốc trở thành mồ côi giữa chợ do sự tan rã đột ngột của khối Cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ vào đầu thập niên 90. 3/ Từ năm 1991 đến năm 2000 là giai đoạn mò mẫm đổi mới với sự xung đột gay gắt trên thượng tầng lãnh đạo về mức độ mở cửa và đu giây giữa hai đối thủ Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh; 4/ Từ năm 2001 đến năm 2010 là giai đoạn mở cửa buôn bán một cách rộng lớn với Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây, nhưng lại dẫn đất nước đi vào quỹ đạo chi phối của Bắc Kinh.

(Còn tiếp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: