Văn Hóa Dùi Cui

January 23, 2009

Ngày 25 tết Kỷ Sửu, Lần đầu tiên UBND Hà nội đứng ra tổ chức” Phố Ông Đồ”, nơi vỉa hè Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nhưng nhiều cụ đồ có hàng chục năm ngồi viết thư pháp trên con phố này, như nhà Thư pháp – Tiến sỹ Cung Khắc Lược, nhà thư pháp trẻ Trịnh Tuấn…, đã tỏ thái độ phản đối BTC, bằng cách không chấp nhận vào ngồi trong”lều bạt” mà tự trải chiếu ngồi vỉa hè, như đúng câu vè “ Ông đồ vỉa hè, cụ nghè ngồi xổm”. Nhưng sau đó lực lượng cảnh sát đã thẳng tay xua đuổi các ông đồ này

Xem nguyên bài tường thuật trong trang Mai Ky blog.

image001

image004

image005


Mại Lý

January 21, 2009

Vũ Thạch

Nếu dùng định nghĩa của ông bộ trưởng Lê Doãn Hợp rằng “Quản Lý là Quản có Lý”, thì đúng là các vị lãnh đạo cao nhất của ông đang liên tục phóng ra nhiều kiểu biện minh “Mại Lý”, tức Bán có Lý, xuống hệ thống cán bộ, đảng viên các cấp. Mục tiêu là để từ đó lan ra dân chúng như những lời giải thích bán chính thức về những động thái của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Trung Quốc suốt hơn một thập niên qua.

Thật vậy, dù không chính thức xuất hiện trên báo, trên đài của Nhà Nước, nhưng trong những buổi gọi là “tâm tình” giữa công an và một số nhà dân chủ, giữa ban Tuyên giáo Trung ương và các ký giả, giữa các hiệu trưởng và sinh viên, giữa các đại sứ và ký giả nước ngoài, người ta bắt đầu thấy giảm hẳn những lời chối không mất đất, mất biển; Nhưng thay vào đó là những luận điểm biện minh cho hành động nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc là “có lý” và ai cũng phải làm thế thôi.

Biện minh thứ nhất của Đảng có thể tóm tắt như sau: Làm gì có chuyện “bán nước”. Vì nói tới chữ “bán” thì phải có nghĩa là người bán thu nhập được tiền. Nhưng ai cũng biết ngày nay chẳng có ông bà lãnh đạo nào nghèo cả, đặc biệt là ở thượng tầng. Gia đình họ đều giàu có cả và đều có mạng lưới làm ăn thu lợi hàng ngày. Vậy thì họ bán nước để được bao nhiêu và có đáng gì so với gia tài của họ hiện giờ không?

Có thể nói cách vịn vào chữ nghĩa để chạy tội và đánh lạc hướng vấn đề không giúp gì nhiều cho các lãnh đạo Đảng. Vì trong suốt giòng lịch sử Việt Nam, chẳng có kẻ bán nước nào nhận được tiền hay muốn nhận tiền cả, nhưng từ ngàn xưa dân tộc ta vẫn dùng chữ “mại quốc cầu vinh” để gọi loại người từ Kiều Công Tiễn, đến Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, đến Lê Chiêu Thống và đến những kẻ đang bán nước hiện nay. Tất cả những kẻ này đều giống nhau ở một điểm là họ chẳng cần nhận một đồng nào cả, nhưng tất cả đều muốn cái ghế cai trị bằng mọi giá.

Thế nhưng câu hỏi kế tiếp là những người lãnh đạo đảng CSVN đang ngồi ở ghế cai trị rồi thì cớ sao họ lại phải đi bán nuớc?

Câu trả lời hiện ra khá rõ khi nhìn lại những gì đã xảy ra trong nửa thế kỷ qua. Thật vậy, sau nhiều thập niên cậy dựa hoàn toàn vào người đồng chí Phương Bắc, có thể nói ngày nay Bắc Kinh có cả một chùm cà rốt và một bó gậy để khuyến khích lẫn hăm dọa các lãnh tụ Hà Nội phải khấu tấu trước các yêu sách của họ. Trước hết là các củ cà rốt. Các lãnh tụ gốc Việt rất cần và rất muốn được tiếp tục truyền thụ các công thức cai trị của Bắc Kinh, từ lý thuyết đến thực hành. Vì ngoài con đường mà Bắc Kinh đã đi trước thử nghiệm, các lãnh tụ tại Hà Nội dường như không dám mạo hiểm tự tìm một con đường nào khác. Bài học dò dẫm tìm đường của Gorbachev mở màn cho các xụp đổ tại Liên Sô và Đông Âu vẫn còn để lại nhiều ám ảnh, khiến Hà Nội không còn dám phiên lưu một bước nào nữa. Và vì thế mà ngày nay, người ta thấy từng điểm lý luận, từng chính sách, từng nghị quyết vừa xuất hiện tại Trung Quốc, thì chỉ mất từ 6 tháng tới 1 năm sau một bản tương tự ra đời tại Việt Nam. Thí dụ như “nền kinh tế thị trường với đặc tính Trung Quốc” không lâu sau đã trở thành “nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” tại Việt Nam, để vẫn nhân danh Chủ Nghĩa Xã Hội mà duy trì chế độ chuyên chính vô sản nhưng lại công nhận quyền tư hữu các tư liệu sản xuất để thu hút đầu tư nước ngoài. Và xa hơn những vấn đề lý luận, Hà Nội cũng được truyền thụ từ Bắc Kinh đủ loại phương pháp để mở rộng sinh hoạt kinh tế nhưng vẫn bóp nghẹt được các đòi hỏi mở rộng sinh hoạt chính trị, cũng như những phương tiện để bưng bít thông tin, mà quan trọng hơn cả là ngăn chặn, sàng lọc, và truy lùng trên Internet, v.v… Điều hiển nhiên là các món quà này không miễn phí!

Và nếu chùm cà rốt đó vẫn chưa đủ để Hà Nội phải ngoan ngoãn bước lùi, thì Bắc Kinh còn có cả một bó gậy để làm cuộc đời và cái ghế cai trị của các lãnh tụ gốc Việt mười phần gian nan. Trước hết là những tay chân của Bắc Kinh (mà dân gian gọi nhẹ nhàng là phe “thân Tàu”) đã được các trường, các cố vấn Trung Quốc đào tạo và cài cắm trong nhiều thập niên, và nay trải rộng trong cả hệ thống Đảng và Nhà Nước, từ các nhân sự trong Bộ Chính Trị, đến Tổng Cục 2 Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, v.v… Ngoài khả năng có thể đồng loạt làm rối loạn một phần lớn guồng máy cai trị của Hà Nội nếu có lệnh, các nhân sự này còn dư khả năng cung cấp cho Bắc Kinh đầy đủ dữ kiện chi tiết về đời tư, mạng lưới làm ăn, tham nhũng, và các chứng tích ăn chơi của từng lãnh tụ nào còn chưa chịu đứng vào hàng chầu Thiên Triều. Chính các “nạn nhân” của Tổng Cục 2 đã tri hô lên điều này cách đây không lâu. Khi cần thiết, các dữ kiện riêng tư này là vũ khí hữu hiệu để ép buộc đủ loại nhượng bộ.

Kế đến là những hăm dọa làm tê liệt nền kinh tế Việt Nam. Sau 2 thập niên phát triển theo hướng “ăn sổi”, không có kế hoạch dài hạn, ngày nay xã hội Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung Quốc vô số mặt hàng, đặc biệt là hầu hết các vật dụng để sinh sống hàng ngày, và ngay cả phải nhập cảng một khối lượng lớn thực phẩm và cây trái từ Phương Bắc. Với phần trăm thị trường lớn như vậy tại Việt Nam trong tay, Bắc Kinh có thể tạo đủ loại biến loạn nhân tạo — từ khan hiếm giả tạo để bất ngờ lên giá hàng loạt các mặt hàng vào tạo lạm phát, đến chủ ý xả cổng cho ngập lụt hàng hóa để giết hàng loạt các công ty nội địa và khởi động vòng xoắn giảm phát. Đó là chưa kể khả năng của Trung Quốc tung vào Việt Nam một khối lượng tiền lớn để tạo siêu lạm phát lập tức. Điều cần nói rõ đây là những tờ tiền in thật chứ không phải tiền làm giả vì Hà Nội đã nhờ Bắc Kinh in giùm tiền giấy cho Việt Nam từ lâu. Đó không phải là điều bí mật và từng được nhiều cán bộ đem ra khoe để chứng minh tình hữu nghị nồng nàn Việt Trung vào những năm cơm lành canh ngọt giữa 2 đảng. Và một khi nền kinh tế Việt Nam hỗn loạn đủ lớn thì cái ghế của những người cai trị chắc chắn sẽ không yên. Rất nhiều đồng chí của họ, ngay lúc này, đang chờ mọi cơ hội để tiến lên thay thế.

Ngoài các cây gậy đánh vào thể chất, Bắc Kinh còn có những vũ khí để đánh vào các cột trụ tinh thần mà đảng CSVN đang dùng để chống đỡ cho bệ cai trị của họ. Một trong những cột trụ quan trọng hiện nay là biểu tượng Hồ Chí Minh (HCM). Sau khi cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn các thần thánh Cộng Sản như Marx, Lenin, Stalin đều lần lượt bị lịch sử nhân loại sa thải, Hà Nội đã dành rất nhiều công sức, tiền bạc vào việc đề cao từ Tư Tưởng HCM, Tác Phong HCM, Gương Đạo Đức HCM, … và đến cả Bồ Tát HCM. Thế mà Bắc Kinh cứ rỉ rả cho tiết lộ những chứng tích kéo ngược ông HCM từ hàng thần thánh xuống hàng những con người bình thường – một ông Hồ chỉ có khả năng góp nhặt tư tưởng sẵn có của người khác mà thôi; một ông Hồ cũng để tâm yêu và cưới vợ như bao nhiêu người khác, nhưng đạo đức lại không nhiều vì khi đến bến vinh quang lại không nhìn nhận vợ cũ nữa. Các bằng chứng về bà Tăng Tuyết Minh trong cả một cuốn sách có tên “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” do chính Viện Phó Viện Khoa Học Xã Hội Quảng Tây đứng tên tác giả thì khó có thể xem đó là một hành động nghiên cứu tự phát và không có chủ ý của Bắc kinh. Và nay, một giáo sư đại học khác tại Đài Loan lại được cung cấp nhiều dữ liệu rất đặc biệt để xuất bản cả một cuốn sách có tên “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo” về gốc tích của ông Hồ. Theo kết luận của giáo sư Hồ Tuấn Hùng dựa trên các chứng tích, thì ông HCM là một cán bộ người Hẹ (Hakka) được đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa ra năm 1933, để thay thế gấp một cán bộ gốc Việt quan trọng tên Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao chết năm 1932. Đây là một lời hăm dọa khá động trời nếu Bắc Kinh cố tình đẩy sâu vào Việt Nam vì hóa ra người mà đảng CSVN buộc cả nước tôn sùng là “cha già dân tộc” chỉ là một cán bộ “lặn sâu” của Tàu và suốt đời tuân theo các chỉ thị từ bên ngoài. Hiển nhiên cả 2 cuốn sách trên đều không được phiên dịch hay lưu hành tại Việt Nam, nhưng các lãnh tụ tại Hà Nội đều thấm đòn cảnh cáo và áp lực này của Bắc Kinh. Và hơn thế nữa, họ không biết người đồng chí Phương Bắc còn bao nhiêu thứ vũ khí độc hại cỡ đó nữa trong “túi gấm”.

Ngoài cột trụ Hồ Chí Minh, Bắc Kinh cũng thường xuyên hăm dọa đẽo mòn luôn cây cột công trạng “giải phóng đất nước” của Hà Nội. Thật vậy, đảng CSVN vẫn biện minh cho việc vĩnh viễn nắm độc quyền cai trị của họ bằng cái gọi là “sứ mạng lịch sử” dân tộc Việt đã giao phó sau khi Đảng đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, v.v… Bộ mặt “vì đất nước, vì độc lập dân tộc”, “quyết tâm quét sạch ngoại bang ra khỏi bờ cõi” sẽ nhanh chóng trở nên loang lổ nếu Trung Quốc mở chiến dịch quảng bá các chứng tích tham chiến của lính Tàu trên đất Việt Nam trước năm 1975. Các chứng tích này cho thấy lãnh đạo Hà Nội đã tự nguyện rước vào và giao hẳn một phần lớn Miền Bắc cho lính Trung Quốc chiếm đóng để họ dồn quân xuống đánh miền Nam. Điều này rất khó chối cãi vì các khu nghĩa trang dành riêng cho lính Trung Quốc, phi công Bắc Hàn còn nằm trên đất Việt cho đến ngày nay. Và cứ thỉnh thoảng – nghĩa là khi cần thiết chứ không vì nghĩa vụ tảo mộ hàng năm – 2 ngài đại sứ Tàu và Bắc Hàn lại đòi đi thăm các nghĩa trang này với những đoàn phóng viên chụp hình hùng hậu theo sau.

Chỉ với một vài thí dụ về các củ cà rốt và gậy gộc đó đã đủ minh họa cho điều khá hiển nhiên tại điểm này là ngày nào những người lãnh đạo đảng CSVN còn tham vọng nắm quyền, thì ngày đó họ còn bất khả chống cự dưới bàn tay Trung Quốc và các quyền lợi của đất nước Việt Nam, kể cả lãnh thổ và lãnh hải, tiếp tục bị dâng nhượng.

Biện minh thứ nhì của Đảng có thể tóm lược như sau: Việt Nam lực yếu hơn mà muốn sống hòa bình thì phải nhượng bộ thôi. Dù là ai đang nắm quyền thì đều phải chọn giải pháp như thế cả. Chính cha ông chúng ta ngày xưa cũng phải cầu hòa với Tàu nhiều lần. Đó là cách sống khôn ngoan bên cạnh một nước lớn.

Điều làm nhiều người bực mình ngay khi nghe loại lập luận này là sự trích dẫn lịch sử quá thiếu sót và sai trật của Ban Tuyên Giáo Trung Ương. Trước hết, trong tất cả các lần chống ngoại xâm phương Bắc, không có một lần nào nước Nam ta có một quân lực hay một nền kinh tế mạnh hơn nước Tàu. Kế đến, các triều đại có công với đất nước đều chỉ khôn khéo cầu hòa SAU KHI đã đánh tan tác và chứng tỏ vô cùng rõ ràng cho Bắc Triều thấy họ không thể chiếm đóng đất nước Việt Nam; chứ cha ông ta không dâng đất nước để được sống yên ổn! Điều rất hiển nhiên là nếu cứ yếu là đương nhiên dâng nhượng thì chắc chắn sau 4000 năm đã không còn đất nước Việt Nam trên bản đồ nữa.

Do đó lập luận này của lãnh đạo Đảng qua các loa Lê Công Phụng, Vũ Dũng là hành động xuyên tạc lịch sử, trích dẫn công ơn của cha ông một cách bất lương để biện minh cho sự khiếp nhược của người thời nay.

Và nếu bảo rằng dâng nhượng lãnh thổ là “cách sống khôn ngoan bên cạnh một nước lớn” thì:

  • Quyết định chống lại quân Tàu năm 1979 của lãnh đạo Đảng thời đó là dại dột chăng? Nếu khôn ngoan như các lãnh đạo hiện giờ thì nên nhượng bao nhiêu tỉnh biên giới vào năm đó?
  • Có phải trận hải chiến Trường Sa năm 1988 là quyết định tự phát “dại dột” của hải quân Quân Đội Nhân Dân chứ không phải quyết định khôn ngoan của Bộ Chính Trị?
  • Vào cả 2 thời điểm đó, quân đội Việt Nam có mạnh hơn quân Tàu không?
  • ….

Câu trả lời ngắn gọn và chính xác cho các câu hỏi trên là Đảng và Nhà Nước CSVN chỉ dám chống trả khi có chỗ dựa – đó là dựa vào quan thày Liên Sô để trở mặt với quan thày Trung Quốc.

Ngày nay Đảng và Nhà Nước CSVN chỉ còn một chỗ dựa duy nhất để tiếp tục nắm quyền là Bắc Kinh, nên chống cự đúng là điều “thiếu khôn ngoan”. Do đó, gọi việc dâng nhượng là “cách sống khôn ngoan” thì chỉ đúng cho tương lai của lãnh đạo Đảng mà thôi.

Còn dân tộc thì mất đi vĩnh viễn từng phần thân thể quê hương. Nhiều nước trên thế giới, trong những giai đoạn yếu thế, họ phải chịu nhìn cảnh ngoại bang chiếm giữ những phần đất nhà nhưng không bao giờ công nhận hay chính thức dâng nhượng hầu con cháu còn có cơ hội lấy lại. Một thí dụ cụ thể là các hòn đảo của Nhật bị Nga chiếm đóng suốt từ sau Thế Chiến 2 đến nay. Nhật Bản hiện nay ở thế yếu về quân sự, không thể lấy lại các hòn đảo này bằng súng ống nhưng vẫn tiếp tục đòi và không hề dâng nhượng luôn cho Nga. Vì khi một phần lãnh thổ đã được chính thức ký kết dâng nhượng thì các thế hệ mai sau, dù có mạnh hơn đối phương, cũng không còn lý cớ để đòi lại nữa. Đây là những mất mát VĨNH VIỄN cho một dân tộc.

Rộng hơn nữa, trong thế giới ngày nay, một chính phủ dân chủ (tức do dân thực sự chỉ định) KHÔNG có thẩm quyền đem đất nước đi nhượng. Nếu chính phủ đó không đủ khả năng chuẩn bị đất nước chống lại ngoại xâm, họ thường đủ tự trọng và tinh thần trách nhiệm để từ chức hầu toàn dân có thể chọn một chính phủ khác có khả năng hơn. Những người lãnh đạo CSVN hiện nay thì ngược lại. Sau khi âm thầm ký nhượng hải đảo, lãnh thổ, lãnh hải, quyền khai thác biển cho ngoại bang, họ trơ mặt:

  • Giấu luôn các bản đồ ghi lại những vùng bị mất dù đã ký hàng thập niên trước.
  • Cho các quan chức của chế độ ra cãi kịch liệt rằng đó là các vùng đất của Tàu từ xa xưa, bất kể sử sách Việt Nam đã viết những gì.
  • Ra sức biểu diễn hình ảnh một Bắc Kinh hiền hòa và thân thiện, trong lúc bịt miệng thân nhân những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắn giết trên biển Đông và tiếp tục huy động toàn dân toàn đảng xì xụp bái lạy 16 chữ vàng của Thiên Triều.
  • Đàn áp, bỏ tù, trừng phạt mọi tiếng nói yêu nước đứng lên phản đối Trung Quốc, từ những nhà giáo thiết tha với tiền đồ tổ tiên đến các cựu chiến binh từng xả thân vì đất nước và các thanh niên sinh viên sục sôi danh dự Việt Nam.

Hiển nhiên, cả 4 chính sách này đều nằm trong “cách sống khôn ngoan bên cạnh nước lớn” của các lãnh tụ hiện nay.

Và sau cùng, khi 2 biện minh trên không đủ sức thuyết phục, Đảng đưa ra biện minh thứ ba trong những ngày gần đây: Thà ta chịu mất một ít đất nhưng định rõ được biên cương thì mới không tiếp tục mất thêm các phần đất khác. Đáng lẽ toàn dân phải vui mừng về tin đã hoàn tất việc cắm mốc biên giới Việt Trung.

Có lẽ so với 2 cách biện minh bên trên, biện minh thứ 3 này là loại yếu nhất vì chính đảng CSVN đã tự chứng minh điều đó không đúng trên giấy trắng mực đen. Những gì đã xảy ra trong 50 năm qua cho thấy không phải cắm được cột mốc trên đất hay vẽ được tọa độ trên biển là xong. Ai cũng có thể nhìn thấy số thương vong của ngư dân Việt dưới lằn đạn của hải quân Trung Quốc trên biển Đông không giảm mà tiếp tục gia tăng sau các ký kết phân Vịnh Bắc Bộ năm 2000. Ai cũng có thể thấy sau khi Hà Nội nhượng bộ lãnh hải và quyền đánh cá trong vịnh Bắc Bộ, thì Bắc Kinh rấn tới trong việc xây dựng các công trình quân sự trên Hoàng Sa, Trường Sa, mở dịch vụ du lịch và di dân đến các đảo này, và trắng trợn hơn cả là công khai thiết lập huyện Tam Sa để cai quản Hoàng Sa, Trường Sa vào năm 2007.

Cùng lúc, trên đất liền, suốt từ khi ký hiệp định năm 1999 với đầy đủ tọa độ và các mốc điểm địa hình, thì chính báo và đài của Nhà Nước liên tục tường thuật tình trạng căng thẳng tại các vùng biên giới từ năm này sang năm khác và kéo dài tới hiện tại. Cả lính và dân phải thường xuyên canh chừng phía Trung Quốc lấn sang đất Việt, đặc biệt là trong vùng Tục Lãm mà họ đang thèm thuồng để xây hải cảng. Chính tài liệu Vấn Đề Biên Giới Việt Trung do Nhà Nước xuất bản năm 1980 đã liệt kê 9 loại thủ thuật xâm lấn mà lính Trung Quốc thường xuyên được lệnh thi hành, đặc biệt là trò đào các cột mốc lên rồi đem trồng sâu trong nội địa Việt Nam vào ban đêm, sau đó nhanh chóng kéo dân vào các vùng mới lấn được. Cho đến nay, chẳng có chỉ dấu gì cho thấy các thủ thuật này đã được lệnh chấm dứt.

Do đó, cách nói “chịu mất một số vùng để không mất thêm nữa” chẳng khác gì kiểu lý luận hãy ném cho con cọp đói vài tảng thịt để từ nay nó thôi không rình ăn thịt người nữa. Đây là kiểu ngụy biện để tự dối mình mà thôi.

Chắc chắn các lãnh tụ hiện nay biết yếu tố quyết định trong việc có mất thêm đất và biển hay không nằm ở chỗ khác. Đó là ngày nào Bắc Kinh còn nắm đằng chuôi, nghĩa là họ biết Hà Nội không dựa vào dân tộc để đối phó với ngoại bang nhưng dựa vào các thế lực bên ngoài để cai trị ngược lại dân tộc, thì Bắc Kinh sẽ không ngừng lấn tới và ép buộc những nhượng bộ mới về đất, biển, đảo, khoáng sản, hải sản, và các quyền lợi khác của dân tộc Việt Nam. Hơn ai hết, Bắc Kinh biết rõ Hà Nội không có đường thoát. Vì cũng như họ, các nhà lãnh đạo chuyên chính vô sản đều chỉ biết và chỉ muốn dùng dân như phương tiện, và canh chừng dân như một loại kẻ thù tiềm ẩn, có thể bùng lên bất cứ lúc nào. Những ý niệm “trưng cầu dân ý”, “làm theo ý nguyện của dân tộc”, “cậy dựa vào trí tuệ và tâm huyết của toàn dân”, v.v… đều là những chuyện không tưởng, vì như thế là trao lại một phần thẩm quyền quyết định tương lai đất nước vào tay nhân dân và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngôi vị cai trị độc quyền của lãnh đạo Đảng.

Chính vì thế mà cả thế hệ lãnh đạo đảng CSVN hiện nay lẫn tương lai sẽ tiếp tục chính sách “khôn ngoan sống bên cạnh nước lớn” vô cùng tai hại đó và tiếp tục bào chế ra những ngụy biện MẠI LÝ mới.

Liệu dân tộc chúng ta có sức ngăn cản những bàn tay bán nước này lại không? và đến lúc đó thân thể quê hương Việt sẽ còn lại bao nhiêu?


Ý nghĩa của những hy sinh trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc

January 19, 2009

Lê Vĩnh

Trong 35 năm qua, Việt Nam đã có 3 cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Trung Quốc. Đó là: thứ nhất, trận hải chiến Hoàng Sa vào tháng giêng năm 1974; thứ hai, cuộc chiến biên giới phía bắc vào tháng 2 năm 1979 và kéo dài suốt 10 năm sau đó; và thứ ba, trận hải chiến Trường Sa năm 1988. Các yếu tố liên quan đến ba trận chiến này có những điểm nào giống nhau?

Trước hết, điểm giống nhau lớn nhất trong cả ba trận chiến này là tinh thần yêu nước của người Việt Nam trước hiểm hoạ ngoại xâm. Đây cũng là tinh thần trách nhiệm đối với tổ tiên và các thế hệ Việt Nam mai sau; và vì vậy tinh thần yêu nước này đã vượt lên trên mọi ý thức hệ, cũng như mọi nghịch cảnh của lịch sử đất nước trong những thời điểm đó. Tất cả những hy sinh của mọi con dân Việt Nam trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc vừa kể không khác gì những hy sinh của tiền nhân Việt Nam để bảo vệ bờ cõi trong lịch sử đất nước. Do đó, đất nước và dân tộc Việt Nam ghi ơn những hy sinh cao quý này như đã biết ơn các thế hệ cha ông chúng ta đã giữ nước từ nghìn xưa.

Một số t sĩ VNCH trong trn hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Một số tử sĩ VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Từ lòng yêu nước đó mà các chiến sĩ Việt Nam trong 3 trận chiến đều đã vượt qua mọi nghịch cảnh và đều thể hiện tinh thần sẵn sàng xả thân vì tổ quốc. Trong trận chiến Hoàng Sa, sau khi đã gây tổn thất nặng nề cho hải đội hùng hậu của Trung cộng, hải đội Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hoà cũng mang thương tích trầm trọng. Trong hoàn cảnh đó, trên đường hải hành trở về, khi nhận được lệnh quay trở lại Hoàng Sa tử chiến giành lại đảo, cho dù thất bại thì sẽ dùng xác tàu và xác chiến sĩ Việt Nam làm chứng tích chủ quyền quốc gia trước thế giới và các thế hệ mai sau. Với tinh thần coi chủ quyền quốc gia là tối thượng, các chiến hạm đầy thương tích của ta đã quay trở lại chiến trường, dù biết rằng sẽ phải hy sinh mạng sống, cho đến khi quân lệnh trên được hủy bỏ mới trở về. Tương tự như vậy, trong cuộc chiến biên giới phiá bắc, dù đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam giấu nhẹm bản chất và ý đồ của “đàn anh” Trung Quốc cho đến giờ chót, nhưng với tinh thần xả thân cho đất nước, thanh niên Việt Nam đã không ngần ngại đi thẳng từ nhà trường ra chiến trường. Trong trận chiến Trường Sa, mặc dù Bộ Tư Lệnh Hải Quân Quân Đội Nhân Dân đã liên tục báo cáo lên bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam về các ý đồ của hải quân Trung Quốc, hầu được trả lời câu hỏi “Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không?“, nhưng bộ chính trị không hề trả lời hay có một sự chỉ đạo nào. Tuy bị bỏ mặc như thế, nhưng các chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân vẫn tự mình gấp rút chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ hải đảo xa xôi của tổ quốc.

Tinh thần vừa kể của các chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân cũng cho thấy sự khác biệt rất cơ bản giữa đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đó là, trong khi giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đặt chiếc ghế cai trị của họ lên trên hết, thì đại khối dân tộc Việt Nam (bao gồm cả con em họ trong Quân Đội Nhân Dân) luôn coi tổ quốc Việt Nam là tối thượng. Chính vì vậy mà các chiến sĩ Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng hy sinh xương máu chống lại sự xâm lược của nước xã hội chủ nghĩa phương bắc, để bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Hiện tượng này một lần nữa cho thấy, từ đáy lòng, người chiến binh con cháu Lạc Hồng yêu tổ quốc Việt Nam chứ không quan tâm đến cái ảo ảnh gọi là “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” do đảng nhào nặn ra theo khuôn mẫu Liên Sô, Trung Quốc.

Từ sự khác biệt cơ bản này mà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn coi thường những hy sinh của những người đã nằm xuống để bảo vệ tổ quốc, mà người ta có thể thấy được qua những việc cụ thể.

Quốc Phòng Trung Quốc)

Lính Trung Quốc kiểm tra xác binh sĩ Việt Nam trong trận chiến Việt-Trung 1979. (Nguồn: Quốc Phòng Trung Quốc)

Trong khi Cộng Sản Tàu huyênh hoang trưng bày công khai trên nhiều trang điện tử những tấm ảnh binh lính Trung Quốc bước qua xác của những chiến sĩ Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc, những cảnh bắt giữ và tra khảo binh sĩ Việt Nam, và cho xây dựng đủ loại đài tưởng niệm binh lính Trung Quốc ngay tại các vùng biên giới, thì Hà Nội lại cố xoá dần các chiến binh Việt Nam ra khỏi sử sách và cấm báo, đài không được nhắc đến những hy sinh này. Đối với cuộc hải chiến Hoàng Sa của hải quân VNCH, thái độ của giới lãnh đạo đảng CSVN không làm ai ngạc nhiên. Năm 1975, tờ Sài Gòn Giải Phóng đăng lời tán dương Trung Quốc đã chiếm và GIỮ GIÙM quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Và đến năm 1979 thì các tài liệu về quan hệ Việt – Hoa không còn nhắc đến trận Hoàng Sa nữa. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn nữa, là ngay cả trận hải chiến Trường Sa của hải quân QĐND cũng bị cố tình đẩy vào bóng tối. Trong các trang quân sử chính thức ghi lại trận đánh Trường Sa, đảng cộng sản Việt Nam không dám ngay cả gọi rõ ra là hải quân Trung Quốc, mà chỉ dùng nhóm chữ “hải quân nước ngoài” trong toàn bộ tài liệu; chứ chưa nói gì đến việc đảng dám gọi những hành động của Trung Quốc là xâm lược. Và hiển nhiên khi không dám gọi Trung Quốc là kẻ xâm lược, thì lãnh đạo đảng CSVN cũng không thể giải thích lý do và càng không thể xiển dương những hy sinh cao quí của những chiến sĩ mang giòng máu Việt xả thân bảo vệ tổ quốc. Nếu dân tộc chúng ta không làm gì cả đối với 3 biến cố quan trọng này thì hàng chục ngàn người con yêu của tổ quốc sẽ vĩnh viễn đi vào quên lãng đối với các thế hệ Việt Nam tương lai.

Hiện nay, thái độ của lãnh đạo đảng CSVN xem thường giá trị của những giọt máu bảo vệ quê hương càng rõ nét, không chỉ xương máu của tiền nhân bao đời trước mà ngay cả sinh mạng của người Việt trong ba cuộc chiến bảo vệ tổ quốc vừa qua. Vì coi thường những hy sinh đó, nên đảng không những thẳng tay ký kết mà còn chẳng ngần ngại đưa ra loại người như thứ truởng Lê Công Phụng, thứ trưởng Vũ Dũng mạnh miệng cãi dùm cho Trung Quốc về những mảnh giang sơn mà máu của bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam đã đổ ra để gìn giữ, rằng đó là đất Tàu.

Lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam có thể ươn hèn phản bội và xoá mờ những hy sinh của các chiến sĩ Việt Nam, nhưng dân tộc Việt Nam nhất định sẽ không để những hy sinh xương máu cao quí trong ba cuộc chiến chống quân xâm lược phương bắc này trở thành vô nghĩa. Xin hãy cùng làm 2 việc cụ thể: Hãy sưu tầm và gìn giữ tên tuổi, thân thế của từng chiến sĩ giòng giống Lạc Hồng đã hy sinh trong cả 3 trận chiến, và quan trọng hơn nữa, hãy cùng nhau chặn đứng những bàn tay bán nước đã và đang phản bội xương máu dân tộc.


LÃNH THỔ, LÃNH HẢI TỔ QUỐC – SỰ TRĂN TRỞ CỦA MỘT SỐ CỰU CHIẾN BINH VÀ GIÁO CHỨC HÀ NỘI

January 16, 2009

Chúng tôi là một số CCB và giáo chức ở khu vực Hà Nội xin bày tỏ với các lãnh đạo đảng CSVN về những điều phiền muộn của mình trước tình trạng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc đang có nhiều hiện tượng rất không bình thường và đáng lo ngại.

CCB Nguyễn Hữu Thịnh, Thầy giáo Nguyễn Văn May, Thầy giáo Nguyễn Thượng Long, Thầy giáo Nguyễn Thanh Nhàn, Thầy giáo Phan Văn Hùng, Thầy giáo Vũ Mạnh Hùng

Các Cựu Chiến Binh và Thầy Giáo lên tiếng: CCB Nguyễn Hữu Thịnh, Thầy giáo Nguyễn Văn May, Thầy giáo Nguyễn Thượng Long, Thầy giáo Nguyễn Thanh Nhàn, Thầy giáo Phan Văn Hùng, Thầy giáo Vũ Mạnh Hùng

Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988. Để hợp thức hóa cho việc cưỡng chiếm hai quần đảo HS – TS, Trung Quốc ngày …đã có quyết định thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh đảo hải Nam Trung Quốc bao gồm hai quần đảo này của Việt Nam. Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man đặc biệt là vụ 9 ngư dân Hậu Lộc và Hoằng Hóa Thanh hóa bị giết hại, 8 ngư dân bị bắt ngày 8/1/2005…  Trung Quốc đã dùng sức ép buộc các công ty Bristish Petroleum của Anh, công ty ExxonMobil của Mỹ phải rút giấy phép thăm dò năng lượng trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt nam … Gần đây Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia  Trung Quốc ( CNOOC ) thông báo dự án 29 tỷ USD để phát triển các mỏ năng lượng trên suốt vùng biển đông đang bị tranh chấp mà trước đây thuộc hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo vietnamnet 10/12/2008, Cục Hải dương Trung Quốc đã họp báo công bố chủ trương khuyến khích các đơn vị, cá nhân khai thác, sử dụng các đảo không có người ở, với mục đích được gọi là “ bảo vệ chủ quyền biển của Trung Quốc ” ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hàng trăm con dân đất Việt đã dũng cảm hy sinh trong nhiều cuộc chiến không cân sức với kẻ ngoại bang để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhưng họ chưa một lần được chính thức tôn vinh công khai. Và thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận được về biên giới lãnh hải của Việt Nam trong mấy thập niên qua đã bị Trung Quốc xâm lấn thì ngày 02/01/2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột:

“Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”. Thấy điều khẳng định đó vẫn còn lỏng lẻo, ông Vũ Dũng còn củng cố thêm: “Những mạng này do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin và những ý đồ khác nhau”. Chúng tôi rất trăn trở về lời khẳng định này.

Trước hết chúng tôi xin được thắc mắc:

· Vì sao rất nhiều SGK, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006 – 2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu? Giải thích thế nào hiện nay SGK 2008 lại đưa ra con số mới cộng cả phần đất liền với phần diện tích các đảo là 331.212 km2 (Niên giám thống kê năm 2006). Vậy chính thức riêng phần đất liền theo niên giám 2006 chúng ta có diện tích là bao nhiêu?

· Thác Bản Giốc theo ông Vũ Dũng chúng ta chỉ thực sự có chủ quyền ở phần thác phụ, phần thác chính đẹp nhất, hoành tráng nhất lại thuộc về phía Trung Quốc. Trong khi đó nhiều thế hệ người Việt Nam đã được giáo dục là toàn bộ thác Bản Giốc là kỳ quan của Việt Nam, một danh thắng được in hình trong nhiều tranh ảnh, sách vở, tem thư… của Việt Nam. Trong cuốn “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” NXB Sự thật đã ấn hành sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã khẳng định : “Tại khu vực mốc 53 xã Đàn Thuỷ – huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó” (Trang 11).

· Khu vực Hữu nghị quan trước kia được gọi là Mục Nam Quan, Trấn Nam Quan, Ải Nam Quan… Ông Vũ Dũng lại tuyên bố tất cả nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc! Trong khi đó cũng theo cuốn sách kể trên lại viết: “Trung Quốc đã phá nát cột mốc 18, xoá vết tích đường Biên giới lịch sử rồi đặt cột km số 0 vào sâu lãnh thổ Việt Nam trên 100 m và coi đó là quốc giới giữa hai nước ở khu vực này”. (Trang 10).

· Chúng tôi thật sự không hiểu nổi Đảng và nhà nước CSVN phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng lại ngăn chặn, sách nhiễu, đàn áp, bắt những người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước một cách ôn hòa như : cuộc biểu tình ngày 9 và ngày 16/12/2007 để phản đối Trung Quốc có quyết định thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; cuộc biểu tình 29/4/2008, phản đối Trung Quốc chính trị hóa việc rước đuốc có liên quan đến việc sát nhập bất hợp pháp hai quần đảo HS – TS vào bản đồ của Trung Quốc.

· Chúng tôi nghĩ: Khẳng định về diện tích lãnh thổ, về vấn đề đường biên giới, vấn đề cột mốc là vấn đề hết sức hệ trọng. Vấn đề đó phải có tiếng nói của nhân dân tức là trưng cầu dân ý. Mặt khác, các quyết định của quốc hội vừa qua (nếu có) cũng không thể coi là hợp lòng dân vì khi thay đổi hiến pháp, thể chế này chưa từng bao giờ trưng cầu dân ý như quy định của hiến pháp đầu tiên năm 1946.

· Chúng tôi cũng như dư luận vô cùng phiền muộn trước vận mệnh của đất nước. Còn nhớ, tháng 12/2007 trong số chúng tôi cùng đứng tên một bức thư kêu gọi người dân có trách nhiệm trước vận mệnh đất nước – khi đó Trung quốc vừa thành lập Tam Sa. Sau đó ít lâu thầy giáo Vũ Hùng ( ở Hà Tây cũ ) đã trở thành người tù lương tâm vì đứng tên trong bức thư đó; nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Phạm Thanh Nghiên (ở Hải phòng ), nhà thơ Trần Đức Thạch (ở Nghệ An ), sinh viên Ngô Quỳnh v.v… đang bị giam giữ cũng vì những lý do tương tự. Chúng tôi tin họ là những người vô tội.

Thầy giáo Vũ Văn Hùng hiện vẫn bị giam giữ tại trại giam số 1 Hà nội với số tù 4436Z . Thầy cũng là một trong số các thầy giáo viết thư ủng hộ sinh viên biểu tình chống thành l�p Tam sa của Trung quốc.

Thầy giáo Vũ Văn Hùng hiện vẫn bị giam giữ tại trại giam số 1 Hà nội với số tù 4436Z . Thầy cũng là một trong số các thầy giáo viết thư ủng hộ sinh viên biểu tình chống thành lập Tam sa của Trung quốc.

Trong thời khắc hệ trọng này chúng tôi kiến nghị:

1. Sớm công bố chính thức bản đồ phân định biên giới, biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc song song với việc công bố công khai bản đồ phân giới giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Thanh để đối chứng. Trong gần 100 năm thuộc địa, dưới sự cai trị và bảo hộ của đế quốc Pháp chẳng lẽ đất đai của quốc gia ngày nay khi có độc lập , chủ quyền lại có chu vi và diện tích nhỏ hơn hồi mất hết chủ quyền.

2.Quốc hội, những người có trách nhiệm phải rà soát và huỷ bỏ những điều khoản luật, thông tư, chỉ thị, nghị định, quyết định … không phù hợp với nội dung và tinh thần điều 69 của hiến pháp. Để nhân dân có quyền bày tỏ và thể hiện lòng yêu nước chính đáng một cách hòa bình của mình mà không bị cản trở, ngăn chặn, sách nhiễu …như đã từng chịu đựng khi các cuộc biểu tình ôn hòa của  sinh viên và các chiến sĩ dân chủ xảy ra trong những năm qua.

3. Nếu thực sự vì nước vì dân, Đảng và nhà nước CSVN nên cầu thị, tuân theo nguyện vọng của đại đa số ngưồi dân, tôn trọng thế trận lòng dân nhằm nâng cao sức đấu tranh của nhân dân một cách hòa bình và hữu hiệu để đòi lại những phần lãnh thổ, lãnh hải bị lấn chiếm mà vẫn giữ mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt – Trung. Đừng cố tình đẩy nhiều thế hệ người Việt Nam hôm nay cũng như mai sau vào những khó khăn không đáng có khi phải tranh đấu đòi lại chủ quyền đích thực của dân tộc mình với những hậu quả để lại tương đương hay nặng nề hơn công hàm năm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi ông là đại diện đã đặt quyền lợi của đảng trên quyền lợi dân tộc, quyền lợi của chủ nghĩa cộng sản trên quyền lợi đất nước.

Một số giáo chức và CCB
ở khu vực Hà Đông – Hà Nội
đồng ký tên (14/01/2009)


Vì hoạt động tôn giáo và xã hội, Mục Sư Nguyễn Thị Hồng bị kết án 3 năm tù

January 15, 2009

Ngày 15/1/2009, tòa án TP.HCM đã kết án Mục Sư Nguyễn Thị Hồng, 48 tuổi, 3 năm tù giam với tội danh là “không thi hành lệnh truy nã và có những hành vi gây rối trật tự an ninh”.

Được biết MS Hồng là người hoạt động cho Giáo Hội mennonite Việt Nam, một giáo hội vẫn bị cấm hoạt động do Mục Sư Nguyễn Hồng Quang lãnh đạo. MS Hồng được thụ phong mục sư ngày 22/09/2007 và trước khi bị bắt là phụ tá giáo dục của Giáo Hội này.

Theo MS Nguyễn Hồng Quang cho biết thì trước khi bị bắt vào tháng 11/2007, MS Hồng là người rất tích cực trong công việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. MS Hồng và con cái thường xuyên tiếp tế giúp đỡ đồ ăn cho dân chúng nghèo khổ khiếu kiện tại tòa nhà Quốc Hội tại Sài Gòn năm 2007, hay thăm viếng gửi quà cho các gia đình tù nhân lương tâm như Luật sư Trần Quốc Hiền, Trương quốc Huy,… MS Hồng cũng là người thường xuyên tiếp xúc với giới công nhân, để giúp đỡ, gây dựng niềm tin.

Những hoạt động của MS Hồng đã làm cho nhà cầm quyền khó chịu. Đây là lý do chính đưa đến việc công an đã bắt giữ MS Hồng vào đầu tháng 11/2007. Nhưng để có lý cớ gìam giữ và truy tố, nhà cầm quyền Việt Nam đã dựa vào những chuyện làm ăn của vợ chồng MS Hồng cách đây hơn 10 năm để buộc tội. Đây là cách mà nhà cầm quyền đã áp dụng đối với nhà báo tự do Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải).

Người biện hộ cho MS Nguyễn Thị Hồng là LS Trần Vũ Hải đã cho hãng thông tấn DPA biết là MS Hồng bị công an bắt giữ vì lý do đã hoạt động cho Giáo Hội Tin Lành của MS Nguyễn Hồng Quang. Nhưng khi mang ra tòa xét xử, thì lại truy tố về “các hành vi chiếm đoạt tài sản” dựa trên những sự kiện đã xảy ra từ năm 1997  mặc dù các chủ nợ của bà đã bãi nại, vì vậy những dữ kiện này không đủ để truy tố và giam giữ MS Hồng.

Đây rõ ràng là một thủ đoạn của nhà cầm quyền Việt Nam nhằm trù dập một người hoạt động tôn giáo và xã hội như MS Nguyễn Thị Hồng. Đây cũng là cách mà nhà cầm quyền áp dụng để trấn áp những người hoạt động cho nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam.

Radio Chân Trời Mới


VỤ ÁN MỤC SƯ NGUYỄN THỊ HỒNG LẠI ĐEM RA XÉT XỬ

January 13, 2009

“Hãy trả tự do cho dân ta đi!” (Xuất 9:1c)

Sài Gòn ngày 07/01/2009

VỤ ÁN MỤC SƯ NGUYỄN THỊ HỒNG LẠI ĐEM RA XÉT XỬ

Theo thông báo của văn phòng Luật sư Trần Vũ Hải và gia đình thì phiên tòa xét xử nữ mục sư Nguyễn thị Hồng sẽ xảy ra lúc 7 giờ ngày 15/01/2009 Tại Tòa án thành phố Sài Gòn số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận I.

Chúng tôi xin có đôi nét về Mục sư Nguyễn thị Hồng như sau:

Mục sư Nguyễn Thị Hồng

Mục sư Nguyễn Thị Hồng

Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng Đại học Bách khoa Sài Gòn khóa 84. là chủ nhiệm hợp tác xã Vạn Thành và Giám đốc công ty xây dựng Tú Tri chuyên kinh doanh xây dựng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1996, công ty bị phá sản, lúc bấy giờ luật về phá sản chưa có, MS Hồng đã nỗ lực hết lòng để khắc phục thua lỗ của công ty, đã bán 2 căn nhà lầu tại đường Lê Văn Sỹ số 412 và tất cả tài sản để trả nợ, nhưng vẫn còn lại số ít không còn gì để trả nổi vả lại Chồng MS Hồng cũng tai nạn giao thông mới chết, MS Hồng có 5 con nhỏ không còn khả năng nuôi phải gửi cho bà ngoại nuôi. Không còn chỗ ở MS Hồng về tá túc nhà của một người chị em bạn dì tên là Cô Chín là một tín hữu tin lành Mennonite. Thương em thấy tình trạng chán đời tuyệt vọng không còn muốn sống của MS Hồng lúc đó, khiến Cô Chín mời Hội Thánh Mennonite chứng đạo và MS Hồng trở thành Cơ đốc Nhân, niềm tin giúp Nữ MS Hồng gượng dậy, dâng mình học trường Kinh Thánh Calvery của Singarpore, và Union College of California (Vietnamese Theological) tại Campuchia, MS Hồng đã tốt nghiệp Cao học mục vụ, được thụ phong mục sư ngày 22/09/2007 và là phụ tá giáo dục của Giáo Hội Mennonite Việt Nam.

MS Hồng như để đền đáp ơn Chúa cứu mình nên đem hết tâm huyết ra phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, đã gây dựng niềm tin cho hàng ngàn công nhân, là người trí thức lại kinh nghiệm sống đức tin Nữ MS Hồng bản chất đơn sơ hiếu học tận tình nên giúp đỡ mọi người không hề phân biệt hay có dụng ý phá hoại an ninh Quốc Gia.

MS Hồng và con cái thường tiếp tế giúp đỡ đồ ăn cho dân chúng nghèo khổ khiếu kiện Tại tòa nhà Quốc Hội phía nam năm 2007, hay thăm viếng gửi quà cho các gia đình tù nhân lương tâm như Luật sư Trần Quốc Hiền, Trương Quốc Huy, hay lưu các tài liệu nghiên cứu về tư tưởng, chính kiến lịch sử, xã hội, tôn giáo văn hóa, luật pháp; thậm chí giúp đỡ cho những người mà nhà nước Việt Nam khó chịu…

Có lẽ do vậy mà chuyện cũ dù chỉ là trách nhiệm trong quan hệ dân sự bình thường của cuộc mưu sinh đầy trắc trở là sản phẩm của nền kinh tế cho đến giờ chỉ là dọ dẫm, phiêu lưu? lại là cớ đủ để chính quyền Việt Nam khuếch đại vô lý thành trách nhiệm hình sự nặng nề để bắt giữ và giam cầm độc đoán nữ mục sư Nguyễn Thị Hồng 14 tháng qua trong trại tù khắc nghiệt!!!

Đúng ra cơ quan an ninh điều tra, viện kiểm sát… xét về nhân thân Mục sư Hồng đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hoặc tạm tha, hay tại ngoại chờ ra tòa, nhưng họ lạnh lùng giam cầm một người nữ không nhà không cửa, góa bụa đáng thương lại là một trí thức năng lực, và là một nữ tu chân thành với đạo, với đời đáng lý họ phải nâng đỡ trên danh nghĩa của một nhà nước vì dân, một nhà nước cách mạng mà họ tuyên truyền 70 năm qua cho dân việt lầm than nầy!

Hội nghị TW9 của Đảng CSVN kỳ nầy, nếu những tù nhân lương tâm chưa được đem ra thảo luận để trả tự do cho họ, quả thật không một thành tựu nào của hội nghị lại có ý nghĩa hơn trong con mắt của lương tâm nhân loại!

Mục sư Nguyễn Hồng Quang


Bản Nháp Kết Toán VN 2008

January 7, 2009

Xin mời bạn xem đầy đủ  bài tổng kết 4 mục 76 điểm của blogger Đinh Tấn Lực ở trang http://dinhtanluc.wordpress.com/temp/ để nhìn lại Việt Nam trong năm 2008.

Những Tuyên Bố Để Đời:

tk1a2

“Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”… “Trận mưa lụt là cuộc tổng diễn tập lớn cho tương lai”. Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị

tk1b1

“Người có vòng đo ngực trung bình dưới 72 cm không được cấp bằng lái hạng A1, tức cũng không được đi xe trên 50 cc”.  Phó Cục trưởng Cục Quản lý KCB/Bộ Y tế Trần Quý Tường

Những Sự Kiện Gây Xôn Xao Dư Luận

Biểu ngữ cầu vượt (Nam Thăng Long-Lai Cách-Lạch Tray)

Biểu ngữ cầu vượt

Tham nhũng, hối lộ ODA-PCI-Nexus

Tham nhũng, hối lộ ODA-PCI-Nexus

Những Góc Nhìn Về VN Từ Thế Giới

tk3a2

Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn thành tốt toàn bộ chiến dịch “Thành Phố Đỏ Cờ TQ” nhân cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh một cách trọng thị và an toàn. – Bắc Kinh

tk3b1

“Tôi không thể tưởng tượng và hiểu được: một dân tộc có 4000 năm văn hiến, dũng cảm, dám đánh và đã chiến thắng 4 cường quốc mạnh nhất thế giới trong chưa đến nữa thế kỷ để giành lấy Độc lập và Tự do lại để thế hệ con cháu phải đi ra làm ăn tại nước ngoài do không đủ sống, sinh ra ăn trộm?” – Tanaka Masao, cảnh sát viên Nhật Bản

tk3c1

Người Việt Nam còn thua về thu nhập cá nhân tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. – World Bank

Những Góc Nhìn VN Từ Trong Nước

tk4a1

Chồng tôi đã viết vì ‘một niềm tin lành lặn ở con người’. Giờ phút này trong trại giam, liệu anh có còn sự lành lặn nào trong tâm hồn nữa hay không? – Phùng Bích Ngọc (vợ của nhà báo Nguyễn Việt Chiến)

tk4b1

Nếu có ai vì cầu nguyện mà phải đi tù, thì tôi sẵn sàng đi tù thay cho họ! – Đức TGM Ngô Quang Kiệt. Read the rest of this entry »